Vua Lý Công Uẩn và tầm nhìn Thăng Long


Chuyện cũ kể rằng Sông Hồng khi xưa ăn thông với Hồ Xác Cáo (còn có các tên là Hồ Trâu Vàng, Hồ Lãng Bạc, Hồ Đạp Hối…), điểm nối kết là ở Cửa Sông – Bãi Sậy (tức Hồ Trúc Bạch ngày nay). Năm 1010, Vua Lý Công Uẩn chèo thuyền ngược sông Hồng tới đây thì nhìn thấy một con Rồng bay lên, cho là có điềm tốt. Người ban Chiếu dời đô, lấy tên là Thăng Long và đặt tên cho vùng hồ bao la này là Hồ Dâm Đàm (mù sương). Thành Thăng Long thuở ban mai ấy chỉ vẻn vẹn có 4 km2, ở phía Nam và Đông Nam hồ Dâm Đàm. Để tránh cho kinh thành khỏi bị lũ lụt uy hiếp hàng năm và để tránh cho các làng mạc thôn xóm vùng hạ lưu sông khỏi bị lũ lụt phá huỷ mùa màng, một công trình thuỷ lợi vĩ đại đã diễn ra trong hai triều đại nhà Lý và nhà Trần. Gần 2000 km đê đã mọc lên, cứu đồng bằng Bắc bộ thoát khỏi lũ lụt.

Tại Kinh đô Thăng Long, con đê đã ngăn cách Sông Hồng với Hồ Dâm Đàm. Sang thời hậu Lê, đê Mã Canh nối từ Yên Quang tới Yên Phụ (tức đường Cổ Ngư, đường Thanh Niên sau này) đã được tạo ra để ngăn nốt mối liên hệ giữa hồ Dâm Đàm với Cửa sông Bãi Sậy, hình thành hồ Trúc Bạch tách hẳn khỏi Hồ Tây như ta thấy ngày nay.

Đó là những điều mà hàng ngàn năm qua nhiều người được biết, thỉnh thoảng có người nhắc lại như nhắc tới một truyền thuyết đáng trân trọng, thật thật hư hư, có ai tin hay không tin cũng không sao, bởi đó chỉ là câu chuyện để tưởng niệm người xưa, không mấy can hệ đến cuộc sống thường nhật.

Song, những thông tin mới nhất về cứ liệu lịch sử và cơ sở thực tiễn đã làm cho chúng ta sửng sốt và phải nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc với con mắt hoàn toàn khác:

Một là, bản đồ hệ thống núi non hình rẻ quạt đi từ Tây sang Đông: Dẫy Đông Triều, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, Sông Đà và Tam Đảo … đều quy tụ tại Thăng Long. Các dải núi đồng quy như vậy tất tạo nên các luồng khí đồng quy. Các luồng khí tạo thành cơn lốc, xoáy lại, bay lên, tạo nên hình ảnh Rồng bay là hoàn toàn có thật. Có lẽ vua Lý Công Uẩn đã nhìn thấy Rồng thật, không phải giấc mơ, cũng không phải tưởng tượng ra như vậy.

Hai là, toàn bộ các dòng sông đều chảy theo hướng Thìn – Hướng của chòm sao CANG KIM LONG gần như tất cả đều quy tụ về động mạch chủ là Sông Hồng. Sử sách Kim – Cổ – Đông – Tây đều nói đến nền văn minh của các dòng sông. "Văn minh Sông Hồng" là quy tụ các nền văn minh của các dòng sông thì giá trị được tăng lên gấp bội. Đó chính là thế của "NÚI CHẦU – SÔNG TỤ".

Một người uyên bác như vua Lý Công Uẩn, với sự đóng góp trí tuệ của người thầy là Thiền sư Vạn Hạnh, đã sớm phát hiện ra thế đất có cấu trúc Phong Thuỷ quý hiển này thì việc ban chiếu rời Đô về đây, đặt tên Kinh thành Thăng Long là một quyết định vô cùng thông minh và chuẩn xác. Câu chuyện về Cao Biền, quan Đô hộ sứ của vua Nhà Đường đã từng yểm bùa và đã từng thất bại. Cũng như sự thất bại thảm hại của nhiều kẻ có ý đồ xấu sau đó, là lẽ đương nhiên.

Không ai có thể xoay được thế của núi sông trời đất này. Một ngàn năm sắp đến, Thăng Long xưa đã trở thành một Hà Nội phát triển. Đến năm 2020 thì quy mô thành phố sẽ kín cả hai bờ Tả ngạn – Hữu ngạn và thành phố sẽ ôm gọn Hồ Tây và Sông Hồng vào trong lòng. Lúc đó Hồ Tây thực sự là tâm điểm của huyệt đạo quốc gia như xưa kia vua Lý Công Uẩn từng mong muốn.

Trở lại vấn đề phong thuỷ, cấu trúc phong thuỷ này là cấu trúc ổn định và trường tồn. Bởi vậy không ai có thể phá nổi, trừ khi chính ta không biết gìn giữ nên ta tự phá ta. Việc xây dựng những công trình bê tông quá cao, quá to ở những nơi không được phép; việc xây kè cống, lấp hết lối thoát và lưu thông dòng nước… chặn mất các luồng khí vần vũ ở trên cao và các mạch nước lưu thông ở bên dưới thì khó lòng tránh khỏi hậu họa ảnh hưởng đến vài thế hệ con cháu.

Vua Lý Công Uẩn đã có cái nhìn thật sâu, thật xa, từ gần một ngàn năm trước vậy!

Advertisements

One thought on “Vua Lý Công Uẩn và tầm nhìn Thăng Long

  1. 遷都詔昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙〠 ?豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。䠠??其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上 謹天命。下因民志。苟有便輒改。故圠 ?祚延長。風俗富阜。而丁黎二家。乃堠??己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安 厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。癠 ?姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得䠠??徙。况高王故都大羅城。宅天地區域之中〠 ?得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。䠠??江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土 高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繠 ?阜之丰。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四栠??輻輳之要会。爲万世帝王之上都。朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。Âm Hán ViệtTích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?Nghĩa:Chiếu dời đô. Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần đời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô. Phải đâu các vua thời Tam Ðại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời. Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời. Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào? * * ** Bàn Canh: vua thứ mười bảy của nhà Thương, một triều đại rất xưa trong lịch sử Trung Quốc; năm lần dời đô nói việc các vua nhà Thương dời đô từ đất Bặc (Thương Khâu, Hà Nam) sang đất Hiêu (Huỳnh Trạch, Hà Nam), đất Tương (An Dương, Hà Nam), đất Cảnh (Hà Tân, Sơn Tây), đất Hình (Hình Đài, Hà Bắc), rồi đất Ân (Yển Sư, Hà Nam). * Thành Vương: vua thứ ba nhà Chu, triều đại cổ tiếp nối nhà Thương; ba lần dời đô nhắc đến việc Chu Văn Vương dựng nghiệp ở đất Kỳ (Thiểm Tây), Chu Vũ Vương dời đô đến Trường Yên (cũng Thiểm Tây), và Chu Thành Vương lại dời đô sang Lạc Ấp (Hà Nam). Thật ra, phải nói hai lần dời đô mới đúng ! * Tam Đại: tên chung chỉ ba triều đại cổ ở Trung Quốc — nhà Hạ do Vũ sáng lập, nhà Thương do Thành Thang dựng lên, và nhà Chu do Chu Văn Vương khởi thủy. * nơi đây: ý chỉ Hoa Lư, kinh đô của nhà Đinh do Đinh Bộ Lĩnh sáng lập và nhà Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập. Lúc Lý Công Uẩn mới lên ngôi, kinh đô của nhà Lý vẫn còn ở đó. * Cao Vương: tức viên quan cai trị nhà Đường Cao Biền, tên tự Thiên Lý, làm đô hộ sứ châu Giao từ 864 đến 875. Cao Biền xây thành Đại La thuộc vùng đất Hà Nội khoảng năm 866. Tương truyền Cao Biền giỏi địa lý, tướng số, bùa phép, có tài vẩy hạt đậu thành binh lính và biết trấn yểm các nơi có long khí.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s