Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông với thiền phái Trúc Lâm


Với tư tưởng mộ đạo từ nhỏ, sau khi nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng và thực tập xuất gia thì đến năm Kỷ Hợi (tháng 8-1299), Ngài chính thức xuất gia về Yên Tử.

Lúc bấy giờ Yên Tử còn là nơi hoang dã, rừng sâu núi thẳm chỉ nghe thấy suối reo, thác đổ hoà với tiếng beo gầm, vượn hú. Ngài tìm vào yết kiến các Thiền tăng đang trụ trì ở Yên Sơn, phát nguyện tu theo hạnh đầu đà (khổ hạnh) mặc áo nâu sồng, đi giày cỏ, ăn chay niệm Phật và dựng am tranh trên núi để tu thiền lấy hiệu là Hương Vân Đại – Đầu – Đà, dứt khoát không còn bận tâm đến việc thế tục. Ngài lập chùa, cất tịnh xá, lập trường giảng giải pháp độ tăng, môn đồ lần lượt tìm đến trước sau có đến hàng vạn người.

Khi làm vua, Ngài tận tâm với non sông đất nước, song giàu sang không lấy làm trọng. Ngài đang ở một địa vị cao sang sẵn sàng bỏ mọi quyền uy, mọi vàng son gấm lụa, tự nguyện dấn thân vào cuộc đời đơn bạc gió sương, vui vẻ nhường ngôi cho con để khoác áo tu hành và sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm.

Khi xuất gia tu Phật, Ngài đi thăm viếng, trấn an, giảng kinh, thuyết pháp ở nhiều nơi trong nước và Chiêm Thành; sức dân phá huỷ các dâm từ và thuyết pháp khuyên dân làm 10 điều thiện. Đi theo Ngài chỉ có 10 đệ tử thân tín, trong số đó có Pháp Loa thiền sư là thân cận hơn cả (sau này là tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm). Từ năm 1303-1308, Trần Nhân Tông ở lại hẳn trong Yên Tử. Trong vòng 5-6 năm cuối cuộc đời mình ở Yên Tử, ông vừa trước tác vừa tu luyện. Năm 1304, Ngài đi khắp mọi nẻo thôn quê và thực hành giáo lý thập thiện… Trần Nhân Tông không tìm đến đạo Phật chỉ với mục đích ''độ'' cho mình, thoát khỏi vòng luân hồi bằng những nghi lễ dâng cúng thô sơ máy móc. Ông đến với giáo lý nhà Phật để tìm sự ''giác ngộ'' cũng là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi lớn: ''Con người là ai? Thế giới có hay không, thật hay ảo''? Tuy nhiên, đối với Trần Nhân Tông còn lý do khác khiến ông đến với Phật giáo: mối quan hệ giữa những con người. Cả hai mặt của đạo Phật: quan niệm về vũ trụ và nhân sinh đã khiến ông suy nghĩ thêm về những kế sách ''chăm dân trị nước'' và muốn xây dựng một môn phái thiền học bề thế riêng của Việt Nam. Vì sao Trần Nhân Tông lại chọn Yên Tử? Với con mắt thiền học – ông đã nhận ra ưu thế của Yên Tử so với nhiều nơi khác. Cảnh trí ở đây khác biệt với thành thị đưa con người gần lại với thiên nhiên và hơn thế vẻ đẹp huyền bí của núi rừng còn có thể tạo nên không khí thiêng liêng hợp với việc tu hành.

"Non hoang rừng rậm ấy là nơi đạo sĩ tiêu dao
Chiều vắng am thanh, chính thực cảnh đạo nhân du hí".

Yên Tử đã chính thức trở thành quê hương của Thiền phái Trúc Lâm. Suốt những năm tháng hành đạo, Nhân Tông đã gắn bó với mảnh đất này. Những ngày ở Yên Tử, Ngài đã tập trung thời gian, tâm trí cho kinh kệ và giáo lý nhà Phật. Ngài đã đi khắp các hang động, xây am dựng chùa rồi giao cho các đệ tử trụ trì…

Về tư tưởng Thiền học, ông chịu nhiều ảnh hưởng của Tuệ Trung Thượng Sỹ, tìm sự giác ngộ ngay trong tâm đạt đến sự giải thoát ngay trong cõi đời hiện hữu. Tuy nhiên, nếu so sánh về lối diễn tả ta thấy Tuệ Trung trực tiếp hơn, đơn giản hơn, hiện thực hơn trong khi Trúc Lâm thiên trọng hơn về phương diện văn chương và hình ảnh; về hình thái thì Trúc Lâm chững chạc hơn nhưng ta lại ít thấy nơi ngài sức sống tâm linh mãnh liệt toát ra từ những lời thiền ngữ giống như Tuệ Trung.

Như chúng ta đã biết, Trần Nhân Tông là một vị vua, một nhà lãnh đạo Phật giáo có bản lĩnh, có lòng yêu nước thân dân và thật sự tài năng. ở phương diện nào ông cũng dấn thân một cách tích cực và cố gắng vượt bậc. Phải chăng vì thế mà ông còn được gọi với tên: Vua Phật.

Trong suốt quỹ thời gian tu hành của mình, ông đã có khá nhiều những trước tác Phật học.

Ngài tịch vào ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Thân niên hiệu Bảo Long thứ 16 (1308) thọ 51 tuổi.

Thiền phái Trúc Lâm tiếp tục phát triển dưới sự kế thừa của Pháp Loa, Huyền Quang và các vị cũng được coi là Tổ thứ hai và thứ ba của dòng thiền này – một thiền phái được phát triển trên tinh thần dân tộc, một thiền phái đã tô đậm nét "dân ái" lên cái nền "nhân ái".

Như vậy, dòng Thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập đã có những tác động to lớn đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo, được kế thừa liên tục thậm chí đến ngày nay. Đây không những là một dòng thiền do một người Việt Nam sáng lập, mà dòng thiền này còn có những điểm đặc biệt về học lý và thực tiễn tu tập nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của lịch sử dân tộc. Qua đây có thể thấy được những cống hiến to lớn của vua Trần Nhân Tông đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo nước ta. Người duy nhất đạt được thành tích rực rỡ trong hai lĩnh vực quân sự và văn hoá, điều mà bất cứ nhà vua Trần nào cũng không thành công. Trần Nhân Tông đã xuất hiện trong lịch sử dân tộc như một vĩ nhân mặc dù ông không phải là người khai sáng ra một triều đại như thông lệ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s