Hà Nội, Thăng Long Tứ Trấn & An Nam tứ đại khí


Đền Voi Phục ở công viên Thủ Lệ cạnh cửa Ô Cầu Giấy phía tây kinh thành, xây trên bờ hồ. Nơi đây ngay trước khi được mở rộng thành vườn bách thú, vốn đã là một vườn hoa tự nhiên, cây cối um tùm cũng soi bóng mặt hồ, cảnh vật có phần hoang sơ hàm chứa một vẻ huyền bí, như kết tụ linh khí đất trời, là thắng cảnh truyền đời. Đền xưa quy mô ra sao không rõ, hai lần thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội vào các năm 1873 và 1882, chúng chiếm được thành nhưng đều bị quân dân Hà Nội dụ về quanh khu đền Voi Phục căng ra đánh, giết chết tướng giặc là Garnier và Riviere. Sau đó chúng đốt phá trả thù đã làm ảnh hưởng di tích, rồi năm 1947 khi chúng tái chiếm Hà Nội và mở rộng ra vùng ngoại vi đã phá trụi đền Voi Phục.

Năm 1953 dân làng dựng lại, và cả một số lần tu sửa ở nửa sau thế kỷ XX cho tới nay ngôi đền vẫn còn khiêm tốn, nó bình dị dưới những tán cây cổ thụ, ngoại thất gắn với cả công viên lại trải ra như vô tận. Đầu lối vào đều có tượng hai con voi quỳ gợi lại một giai đoạn huy hoàng của vị thần được thờ, và do đó thành tên đền. Vị thần ở đây là Linh Lang đại vương, con của một cung tần nhà Lý đi tắm hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) gặp rồng mà hoài thai 14 tháng sinh ra, được vua Lý Thánh Tông cho về sống ở trại Thủ Lệ. Khi quân Tống sang xâm lược nước ta, Linh Lang xin vua cho thớt voi rồi cưỡi đi đánh giặc. Thắng giặc rồi chàng xin về lại Thủ Lệ, không bao lâu mắc bệnh rồi hoá thành con giao long bò xuống hồ biến mất. Vua phong là thượng đẳng thần và sai lập đền thờ trên khu nhà cũ. Thực chất đây là nơi thờ thần sông nước, sau được nâng lên thành thờ rồng, rồi lịch sử hoá thành thờ anh hùng giữ nước, gắn với phương tây mang tính âm. Thần Linh Lang ở đây là cùng mô thức với việc thờ ông Cộc ông Dài tức thờ rắn của cư dân sông nước xứ Bắc mà sau lịch sử hoá thành thờ Trương Hống Trương Hát.

Đền Kim Liên thuộc làng Kim Liên phường Phương Liên ở phía Nam thành phố. Đền xưa đã bị phá chỉ còn toà miếu nhỏ với tấm bia rất lớn được khắc và dựng từ năm Hồng Thuận 3 (1510) ghi lại bài văn dài Cao Sơn đại vương thần bi minh trích tự. Mặt sau ghi thêm ít dòng nữa vào năm Cảnh Hưng 33 (1772) cho biết bia này vốn ở Phụng Hoá, sau trôi nổi về bến Bồ Đề, vào đời Hoằng Định dân bản phường vớt lên đưa về chùa, sau thấy thiêng lại rước ra đặt ở bên trái đình, đúng như ngày nay còn thấy, có cây đa cổ thụ trùm lên càng tạo vẻ cổ kính và thiêng liêng, đúng là nơi cư trú của thần linh. Văn bia cho biết vị thần ở đây là Cao Sơn đại vương, một trong số trăm con của Lạc Long quân và Âu Cơ, là thần núi xa xưa đã giúp Sơn Tinh đánh thắng Thuỷ Tinh, đầu thế kỷ XVI lại giúp vua Lê dẹp loạn giữ yên ngai vàng. Thực chất đây là việc thờ thần Núi, vốn rất phổ biến ở xứ Đoài – nơi có núi chủ Tản Viên/Ba Vì, được khái quát là Tản Viên sơn thánh, một biểu hiện của việc thờ các thần tự nhiên.

Đưa hai thần Linh lang và Cao Sơn về trấn giữ các cửa tây và cửa nam của kinh thành chính là đã kéo các thần của cư dân phía bắc trũng thấp và của cư dân phía tây cao ráo là những vùng ngày nay đưọc xem là đất tổ, gắn kết sông với núi, đất với nước để trở thành Tổ quốc là một khái niệm thiêng liêng nhất, đồng thời cũng là sự khẳng định văn hoá truyền thống, lấy vốn cũ làm cơ sở để xây dựng bản sắc dân tộc.

Đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, xưa thuộc phường Hà Khẩu trên bờ sông Hồng cạnh cửa sông Tô Lịch, thuộc phía đông kinh thành là nơi thờ thần Long Đỗ với hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương.

Long Đỗ vốn là thần núi Nùng, trong thời bắc thuộc khi Cao Biền chôn đồng và sắt ở thành Đại La để yểm, thì thần đã gây mưa gió, sấm chớp đánh bật lên và nát vụn cả đồng và sắt. Cao Biền bèn lập đền thờ để mong được bình yên. Rồi khi vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, cứ xây xong lại đổ. Vua cho người đến đền Bạch Mã cầu thần thì có một con ngựa trắng từ trong đền đi ra chạy một vòng trong khép kín ngược chiều kim đồng hồ rồi vào đền rồi biến mất. Vua cứ theo vết chân ngựa xây thành, cho sửa lại đền và phong thần là Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần. Ngày ấy quanh đền Bạch Mã dân mở phố chợ rất đông.

Với nhà Lý, phật giáo được xem là quốc giáo, mà Thăng Long đã thành một trung tâm, nó tiếp nhận một số thành tựu của văn hoá Ấn Độ từ nhiều thế kỷ trước mà trực tiếp là theo đường thuỷ có nghía là từ phía đông. Với văn hoá ấn Độ, ngựa trắng là biểu trưng của mặt trời, ngày nay nhiều chùa và đền vẫn còn tượng ngựa trắng, và trong nhân dân vẫn gắn ngựa với thời gian: "bóng câu qua cửa sổ". Lớp văn hoá ấy sau được lồng vào văn hoá mới, coi Long Đỗ là sự kết tụ khí thiêng sông núi làm chỗ dựa tinh thần của kinh thành. Thần Bạch Mã được thờ ở phía đông, nơi cửa ngõ đón nhận văn hoá ấn Độ đã ở một trình độ cao. Nền văn hoá phật giáo trong suốt thời bắc thuộc đã giao thoa với tín ngưỡng bản địa để tạo ra những gía trị mới cao hơn cho dân tộc, trong đó có gắn với nguồn gốc của Lý Công Uẩn và sự thành lập vương triều Lý.

Với những biến thiên của lịch sử, đền Bạch Mã đã qua nhiều tu sửa – nhất là ở thế kỷ XVII – XVIII, trong đó kiểu cách hiện thấy là thuộc thời Nguyễn. Do sự phát triển phố xá, khuôn viên đều thu hẹp nhưng còn khá rộng, các lớp kiến trúc gối nhau chạy sâu vào khang trang, nhiều bia đá và đồ thờ trọng thể.

Đền Quán Thánh nằm bên góc đường Cổ Ngư xưa, nay là đường Thanh Niên, đền Quán Thánh ở một vị thế có phong cảnh hữu tình, cảnh quan thoáng đãng, gần sát hồ Tây và hồ Trúc Bạch góp phần tô điểm cho cảnh đẹp cổ kính và thơ mộng. Tương truyền đền có từ thời Cao Biền (thế kỷ thứ IX) ở phía nam sông Tô Lịch. Sau khi vua Lý Thái Tổ định đô (1010), mở rộng kinh thành, đã dời ngôi đền về Tây Bắc thành, tức như vị trí hiện nay. Đền là nơi thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ, đây cũng chính là một trong những ngôi đền nổi tiếng trong "Thăng Long tứ trấn" của xứ Hà thành xưa. Đền có cổng tam quan uy nghi đường bệ được dựng trên những tấm đá lớn với gác chuông ở phía trên cùng. Phía trước có bốn cây cột lớn được đắp nổi bằng những hình nghê, phượng và mặt hổ phù… Bước chân qua cổng tam quan là sân rộng, trong sân có bể cá vàng và hòn giả sơn. Cấu trúc đền gồm hai lớp. Lớp ngoài là nhà Đại Bái cao ráo, lộng lẫy với hệ thống cột, xà, cửa võng sơn son thếp vàng. Hai bên tả hữu treo biển đồng chữ bạc của vua Thiệu Trị (1841-1847) ban và một khánh đồng do một Đại Đô đốc thời Tây Sơn cung tiến vào năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1795). Phía trong nội cung đáng chú ý nhất là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen cao 3,72m, nặng 4 tấn, tay trái bắt quyết, tay phải cầm gươm có rắn quấn chống lên lưng rùa với phong thái như một vị tiên phong đạo cốt.

Pho tượng được nhiều người biết đến như một tuyệt tác về kĩ thuật đúc đồng của người Việt hồi đầu thế kỉ XVII với những đường nét tinh xảo, điêu luyện. Ngoài ra, hậu cung còn có tượng bốn vị nguyên soái khác cũng được thờ tự. Đặc biệt, trong đền có một pho tượng ngồi trong khám. Tương truyền đó là tượng ông Trùm Trọng, một ông trùm phường đúc đồng làng Ngũ Xá đã đúc pho tượng thánh Trấn Vũ. Sau khi ông trùm qua đời, các học trò đúc tượng thầy đặt vào đây để tỏ lòng nhớ ơn thầy.

Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ của ngôi đền các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới… được chạm khắc một cách tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê.

Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn, duyên dáng bên hồ Tây thơ mộng và tồn tại trong lòng người Hà Nội.

Việc thờ Bạch Mã và Quán Thánh rõ ràng là biển hiệu tiếp nhận văn hoá ấn Độ và văn hoá Trung Hoa để làm giàu văn hoá dân tộc. Đây là bài học xuyên các thời kỳ lịch sử về tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

An Nam tứ đại khí là bốn khí vật bằng đồng cực lớn tương truyền được đúc ở thời Lý, là tháp Báo Thiên và chuông Quy Điền ở kinh đô Thăng Long, là vạc chùa Phổ Minh ở Nam Định (hay chùa Phả Lại ở Bắc Ninh?) và tượng phật chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh, do làm bằng đồng nên quân Minh trong thời gian thống trị nước ta ở đầu thế kỷ XV đã phá huỷ lấy đồng. Dân gian còn nhớ vạc Phổ Minh còn có thể chạy được trên miệng, còn bia chùa Quỳnh Lâm kể rằng pho tượng Phật ở đây cao những 6 trượng (3,1m) đầu tượng chạm nóc điện cao 7 trượng, đứng ở bến đò Triều Đông xa mươi dặm (chừng 5Km) còn trông thấy rõ.

Riêng hai công trình lớn ở kinh đô được ghi khá đầy đủ trong thư tịch, theo đó nó có thể xem như là huyền thoại, kỳ vĩ cả về ý tưởng chứ không phải chỉ ở hình thức.

Tháp Báo Thiên gọi theo tên chùa ở phía tây hồ Lục Thuỷ ( hồ Hoàn Kiếm). Nhẽ ra là tháp Phật như một số tháp đương thời ở các chùa Phật Tích, Tường Long, Chương Sơn… nhưng tháp Báo Thiên xây ngay trên đất bằng ở giữa kinh thành, có số tầng chẵn (12 hoặc 30?) và nhất là ở cái tên Đại Thắng Tư Thiên khẳng định ý nghĩa báo cáo trời chiến công lớn lao của dân tộc, cao những vài mươi trượng…tất cả biểu thị đây là công trình kiến trúc của nhà nước mang tính chất đài kỷ niệm chiến thắng như một thứ Khải hoàn môn.

Tháp có số tầng chẵn biểu thị sự cân bằng, ổn định, tĩnh tại , bền vững như triều đình nhà Lý đầy khí thế, sẽ tồn tại dài lâu. Ngọn tháp đúc bằng đồng khắc ba chữ Đao Ly Thiên tỏ ý tưởng của đấng tối cao xông lên tận trời thẳm. Đỉnh tháp có tượng người tiên bưng mâm ngọc hứng móc ngọt làm thuốc cho vua. Trong xã hội nông nghiệp xanh- sạch- đẹp, ở trên cao dường như không có bụi, hơi nước gặp lạnh đọng lại có thể xem như nước cất tinh khiết, là tinh tuý của tự nhiên, là lộc của trời ban. Có nhẽ vì thế, những tháp xây các thời sau không cao lắm, trên đỉnh thường kết thúc bằng một quả hồ lô như bầu rượu, cũng là mang ý nghĩa bình nước thiêng. Cây tháp báo Thiên đến thời Trần được Nho thần Phạm Sư Mạnh tả lại với hình tượng thật hoành tráng:

Trấn áp đông tây cũng đế kỳ
Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy
Sơn hà bất động kình thiên trụ
Kim cổ nan nan lập địa chùng

Dịch:

Trấn giữ đông tây vững đế kỳ
Tháp cao sừng sững thật uy nghi
Là cột chống trời yên đất nước
Vượt mọi thời gian chẳng sợ gì.

Cái hình ảnh "cây cột trụ chống trời, cao sừng sững vượt trội hẳn lên trong cả không gian và thời gian để giữ vững kinh kỳ" hẳn phải nhoà trong mây, là cây thánh nối Trời với Đất, là sự giao hoà trời cha – đất mẹ để dân tộc phát triển, dân đông vật thịnh. Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các tác giả sách Tang thương ngẫu lục đã chứng kiến cuộc đào nền tháp (sau khi tháp bị quân Minh phá ở đầu thế kỷ XV) còn thấy nền tháp hình vuông, hai bên mỗi cửa có hai pho tượng kim cương đứng trấn giữ, bên trong lòng tháp còn có các tượng người tiên, chim muông đến cả giường, ghế, chén, bát không sao kể hết, tất cả đều bằng đá. Cho đến cuối thế kỷ XIX, các tác giả sách Đại nam nhất thống chí còn thấy tháp cao một trăm thước (chừng 40m), nhưng sau đó Pháp chiếm Hà Nội đã chuyển khu đất này cho bên đạo thiên chúa xây nhà thờ lớn Hà Nội.

Chùa Một Cột tên chữ là Diên Hựu tự, nay đã làm lại thu nhỏ nhưng vẫn trên khu đất cũ vốn xưa thuộc vườn cấm phía tây của hoàng thành nhà Lý, là ngôi chùa của hoàng gia có quả chuông Quy điền khổng lồ, do vua Lý Thái Tông cho xây để giải giấc mơ thấy quan Âm dắt lên đài sen. Chùa mang hình tượng bông sen thanh cao, tinh khiết biểu trưng của đạo phật và đất phật. Thư tịch xưa cho hay chùa được dựng trên đỉnh cây cột đá cao mươi trượng, vọt lên từ giữa ao thơm Linh Chiểu hình vuông ở trong một cái hồ Bích Trì hình tròn, xung quanh hồ có hành lang được vẽ nhiều hình về thế giới nhà Phật, các phía bắc cầu cong để đi vào, hai bên cầu đằng trước được xây tháp bằng sứ men trắng như lưu ly. Trong lòng tháp có tượng Quan Âm. Hàng tháng vào ngày mồng một và rằm Hoàng gia làm lễ đi vòng quanh chùa để cầu cho nhà vua sống lâu, vương triều bền thịnh. Hàng năm ở đây còn tổ chức lễ phóng sinh. Thời Trần, thiền sư Huyền Quang đã ghi nhận hình ảnh ngôi chùa này:

Thượng phương thu dạ nhất chung lan
Nguyệt sắc như ba, phong thụ đan
Xi vẫn đảo niên phương kính lành
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn…

Dịch:

Chùa xưa một tiếng chuông ngân
Trăng thu tãi sóng, lá bàng nhuộm son
Hồ vuông chim ngủ soi gương
Tháp cao sừng sững, búp tròn đôi tay…

Đặc biệt năm 1080 chùa được triều đình đúc quả chuông rất lớn, đúc xong chuông nặng không thể khiêng được mà tự di chuyển đến chùa. Tại chùa đã xây toà phương đình bằng đá cao 8 trượng (chừng 25m) vẫn không treo nổi, do đó phải để chuông dưới ruộng ẩm, rùa vào ở trong chuông, do đó chuông được mang tên là chuông Quy Điều. Chuông tồn tại đến đầu thế kỷ XV thì bị quân Minh phá huỷ lấy đồng. Chuông Quy Điều gắn với rùa là con vật thiêng từng giúp An Dương Vương làm nỏ thần và giúp Lê Lợi gươm báu để giữ nước và khôi phục nước, chuông cũng là sự thông đạt của dân chúng bị oan khuất đến nhà vua, là sự giác ngộ của đức Phật đối với các phật tử. Vì chuông thiêng nên tự di chuyển đến chùa (chính là việc lăn chuông từ nơi đúc đến chùa, dùng sức đẩy thay sức khiêng giảm nhẹ rất nhiều), cũng vì thiêng nên chuông phải luôn gắn với đất và rùa.

Trở lại ngôi chùa Một Cột, hình ảnh cây cột đá kỳ vĩ đội toà chùa, vọt lên ở giữa hồ nước còn có thể xem là cặp tượng Linga-Yoni hoành tráng, biểu thị sự trường tồn, sinh khí rộn bừng sức sống. Rất tiếc là cuối thời Nguyễn làm lại thu nhỏ nhiều lần, rồi tháng 9-1954 thực dân Pháp lại lén phá, sau khi tiếp quản thủ đô đã cho làm lại. Cột chùa ngày nay bằng xi măng cốt thép chỉ cao chừng 4m với đường kính 1,2m và ngôi chùa trên đầu cột mỗi cạnh cũng chỉ chừng 3m. Chùa nhỏ nhưng hình tượng bông sen vẫn giữ được và hoà hợp với cảnh trí cây xanh mang một vẻ đẹp duyên dáng. Sau chùa Một Cột từ năm 1958 còn được trồng cây bồ đề chiết từ cây mẹ mà đức Thích Ca đã tu thành Phật, do Tổng thống Ấn Độ Praxat tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Diện mạo Thăng Long thời Lý còn phải kể đến đền Đồng Cổ ở phố Thuỵ Khê thờ thần Trống Đồng. Trống Đồng là vật thiêng của dân tộc từ thời các Vua Hùng dựng nước đầu tiên, sau sự tìm huỷ của phong kiến phương Bắc trong thời gian chúng thống trị hơn ngàn năm, ngày nay chỉ còn giữ được rất ít. Năm 1996, Nhà nước ta đã đúc phục chế tặng Liên Hiệp Quốc nhân kỷ niệm 50 năm thành lập. Đền Đồng Cổ vốn ở Thanh Hoá, nhà Lý đã cho rước Thần về Thăng Long để thờ làm thần bản mệnh của triều đình, hàng năm tổ chức lễ tuyên thệ của các quan:"Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung thì thần minh tru diệt". Lời thề đề cao chữ hiếu trên cả chữ trung, có hiếu trong nhà mới trung giữ nước, tề gia tốt mới mong trị quốc giỏi. Trong đền lễ trọng thể, tất cả các quan văn võ phải thề hiếu trung trước thần vị Trống Đồng với sự chứng kiến của nhà vua. Ngoài đền thì trai thanh gái lịch mở hội tưng bừng. Lễ ở đây là hạt nhân của hội, lễ càng trọng thì hội càng vui, tất cả mới tạo sức sống mãnh liệt để tồn tại mãi về sau.

Đền Đồng Cổ qua những biến thiên, dấu tích hiện còn cũng cơ bản thuộc lần làm lại ở thời Nguyễn, quy mô nhỏ nhưng hoà với phong cảnh cây xanh, có sông Tô đằng sau và Hồ Tây phía trước, là chứng tích của sự rèn luyện đạo đức gia đình và đạo đức xã hội, cùng xây dựng một nền văn hoá Việt Nam, nó thật truyền thống nhưng cũng rất hiện đại.

Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070, sau ít năm, đến 1076 đã tổ chức cuộc thi cấp cao đầu tiên của dân tộc. Lâu nay vẫn coi đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, song thực ra nơi đây đào tạo và thi tuyển tiến sĩ vượt trội lên cấp cử nhân rất nhiều. Dấu tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám thời Lý không còn, nhưng các thời sau tu bổ vẫn khẳng định vị trí của trong không gian và trong lòng người, trong xã hội. Văn Miếu – Quốc Tử Giám ngày nay là thuộc những lần tu bổ ở thời Lê và thời Nguyễn, là cả một tổng thể có hồ Văn phía trước, có vườn hoa và nhà bia ở trong, có điện Đại Thành để bình văn và thờ Khổng Tử cùng Tứ Phối, có các dãy tả – hữu… vốn xưa thờ 72 học trò ngoan và giỏi của Khổng Tử. Phía sau Văn Miếu còn có khu vốn xa xưa là nhà Thái học đào tạo nhân tài cho cả nước, thời Nguyễn chuyển thành nhà Khải Thánh thờ bố mẹ Khổng Tử. Đầu kháng chiến bị thực dân Pháp phá tan, nay chúng ta đang dựng lại khang trang, xứng tàm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội để thờ các danh nhân dân tộc, các vị vua hiền đã có công mở mang Văn Miếu – Quốc Tử Giám và việc học hành của dân tộc. Từ đây, ngọn đuốc văn hoá – giáo dục ngày càng thắp sáng và là ngọn đuốc truyền thống trí tuệ dân tộc truyền đời

Diện mạo Thăng Long ban đầu qua thư tịch rất phong phú, xứng tầm một thành phố lớn thời trung cổ thế giới, thực sự là khí thế rồng bay của dân tộc, của vương triều, của hoàng đế. Gần nghìn năm biến đổi, dấu tích xưa còn lại quá ít ỏi, chỉ có thể hình dung với bức tranh phác hoạ, song thật rất quí. Hy vọng ngành khảo cổ sẽ dần từ lòng đất lấy ra những chứng cứ để bổ sung cho nó thêm đậm hơn, rõ hơn.

Advertisements

5 thoughts on “Hà Nội, Thăng Long Tứ Trấn & An Nam tứ đại khí

  1. Chữ Thiên trong truyền thống đặt tên qua các triều đại.Lý Nam Đế (544-548) mở đầu truyền thống với chữ "Thiên" đặt cho niên hiệu mình là Thiên Đức. Bẵng đi một thời gian tới thời tự chủ với Lê đại Hành (941-1006), chữ Thiên bắt đấu tái xuất hiện, rồi kinh qua suốt đời Lý, chữ Thiên đã được các vua đặt cho niên hiệu và cung điện, đền, chùa, và các công chúa.Niên hiệu Thiên Phúc (980-988) đánh dấu năm tức vị và kế tiếp của vua Lê Đại Hành và niên hiệu Ứng Thiên (994-1005) để ghi dấu các thắng lợi về binh bị và chính trị của Vua. Đặc biệt Đại Việt sử lược còn ghi khi lâm nguy trong chiến trận, vua bị giặc bao vây, con vua (Vệ Vương Đinh Tuệ) bị trúng tên chết: Nhà Vua kêu “Trời” ba tiếng, giặc tự nhiên thua (VS tr103). Đại Việt sử ký toàn thư (ĐST) ghi thêm: “Vua kêu trời ba tiếng rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ” (Bản kỷ, q1, kỷ nhà Lê, tờ 23a). Cũng năm Ứng Thiên thứ 8 (1002) quân đội Đại Việt giàu mạnh đến nỗi vua sai chế tạo mũ trận bằng bạc hơn vài nghìn cái, đem phân phát cho quân nhân (VS,103). Chùa Ứng Thiên ở làng Cổ Pháp có lẽ cũng được xây dựng thời này, có liên hệ với việc sinh ra của Lý Công Uẩn sau này.Đến năm 1006, con vua Lê Đại Hành là Long Đĩnh tuy không có quân cách và quân phong như vua cha nhưng theo truyền thống? cũng mang tôn hiệu là “Khai thiên ứng vận thánh thần võ tắc thiên sùng đạo”. Ông vua hoang độ này không sống theo tôn hiệu có hai chữ thiên làm hộ mạng nên vắng số tiêu vong để triều Lý lên thay.Triều Lý (mà sách Đại Việt sử lược ghi triều Nguyễn theo lệnh của nhà Trần sau đó) mở đầu với Lý Công Uẩn (1009-1028) một đệ tử thuần thành của thiền sư Vạn Hạnh, đã nghe lời khuyên của quần thần lên làm vua (xưng là Lý Thái Tổ) “để cho trên thuận lòng trời, dưới theo nguyện vọng của dân”, lấy tôn hiệu là “Phụng thiên chí lý ứng vận tự tại thánh minh Long hiển duệ văn anh võ sùng nhân quảng hiếu, thiên hạ thái bình khâm minh quang trạch chiêu ngưỡng vạn bang hiển ứng phù cảm oai chấn phiên man duệ mưu thần công thánh trị tắc thiên đạo chánh”Ông vua nhân ái vì theo Thiên Đạo Phụng Thiên nên khi lên ngôi tháng 11 tha hết những người bị tù tội, đốt bỏ những dụng cụ tra tấn, đổi niên hiệu là Thuận Thiên (1010) và ra lệnh qui định lại luật pháp họp với lẽ nhân đạo cho thuận lòng Trời, đổi sông Bắc giang là sông Thiên Đức và làng Cổ Pháp là phủ Thiên Đức…Trong thành dựng chùa Hưng Thiên… Năm 1011 dựng chùa Tứ Thiên Vương.Năm 1012 “Vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân” nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hoá, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trunghiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”.Năm 1016, năm Thuận Thiên thứ 7, được mùă to, miễn thuế cho trong cõi ba năm, dựng chùa Thiên Quang, chùa Thiên Đức và đắp tượng Tứ Thiên Đế. Giúp cho hơn 1000 người chốn kinh sư làm tăng đạo. Năm 1021 nhằm sinh nhật của vua, vua cho dùng ngày ấy là tiết Thiên thành. Vua Lý Thái Tông năm Mậu Thìn (1028) đổi niên hiệu Thuận Thiên của vua cha làm năm Thiên Thành thứ nhất, đặt tôn hiệu mở đầu bằng 4 chữ Khai Thiên thống vận tôn đạo… lấy ngày sinh nhật vua làm tiết Thiên Thánh, dựng chùa Thiên thắng; đổi diện Càn Nguyên thành điện Thiên An, xây điện Phụng Thiên trước lầu chuông cho dân chúng đánh kêu oan. Năm 1030, năm Thiên Thành thứ ba, cho dựng điện Thiên Khánh. Năm Thiên thành thứ 4 (1031) dân Châu Hoan (Nghệ An) làm phản, vua dẹp yên giặc Xây cất chùa chiền 150 ngôi… Ruộng Đỗ Động Giang cho giống lúa chín bông, vua xuống chiếu đổi tên ruộng là Ứng Thiên. Năm 1035 lập người thiếp yêu làm Thiên Cảm hoàng hậu.Năm 1037, dựng đền Hoàng Thánh Đại Vương. Trước đây vua thấy phủ Đô hộ để nhiều án ngờ, quan sĩ sư không xé đoán được muốn tỏ rõ sự linh htiêng sáng suốt để tiệt diệt kẻ gian trá, bèn tắm gội đốt hương khấn “Thiên Đế”.Mùa đông 1041, vua ngự đến núi Tiên Du xem làm viện Từ Thị Thiên Phúc. Khi về, xuống chiếu phát 7560 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di Lặc và hai vị Bồ tát cùng chuông để ở viện ấy. Năm 1043 dẹp yên giặc châu Văn, bắt được ngựa tốt, vua đặt tên cho một con tên là Tái Thiên.Năm 1045, tháng 7 vua thân chinh vào thành Phật Thệ của Chiêm Thành (bị đổi là), tháng 10 đổi niên hiệu là Thiên Cảm Thánh Vũ và tăng tôn hiệu thêm tám chữ là Thánh Đức Thiên cảm Tuyên Uy Thánh Vũ. Năm ấy được mùa to. Năm 1054 vua băng hà Vua đưọc táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức.Vua Lý Thánh Tông (1054) lên ngôi lấy tôn hiệu với câu đầu: Pháp Thiên ứng vận sùng nhân chí đức, truy tôn mẹ họ Mai là Kim Thiên Hoàng Thánh hậu. Đặt quốc hiệu là Đại Việt… Xuống chiếu bỏ những hình cụ tra tấn để sống đúng với tôn hiệu sùng nhân chí đức,theo luật Trời. Năm 1055 lấy ngày sinh nhật làm thành tiết Thừa Thiên. Vua Thánh Tôn cho hậu thế một câu để đời: “Mùa đông, tháng 10 lạnh lắm, vua bảo kẻ tả hữu rằng: Ta ở trong cung sâu, sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà còn lạnh như thế nầy, huống chi những kẻ ở trong tù, khốn khổ vì trói buộc, phải trái chưa phân minh mà quần áo không đủ, thân thể không có gì che, nên mỗi khi cơn gió lạnh khắc nghiệt thì há không chết được người vô tội hay sao! Ta vô cùng thương xót”. Rồi lệnh vua truyền xuống quan Hữu ty phải cấp phát chăn chiếu ở trong kho phủ ra cho tù nhân, luôn luôn cung cấp cơm ngày hai bữa.Năm nay (năm Ất Mùi) trong cõi được miễn tiền thuế một nửa. Năm sau (1056) bày ra hội La Hán ở điện Thiên An, dựng chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua thân làm bài minh. Mùa xuân (1057) xây tháp Đại Thắng Tự Thiên cao vài chục trương, theo kiểu 12 tầng (tức là tháp Báo Thiên): trong vòng nửa năm xây dựng hai công trình kiến thiết có tiếng vang để đời.Tháng chạp năm ấy dựng chùa Thiên Phúc và chùa Thiên Thọ, đúc tượng Phạn Vương, tượng Đế Thích để an vị vào chùa ấy. Năm 1058 dựng điện Bát giác Khổn Thiên (có sách chép là Hồ Thiên)Mùa hạ, tháng 6 (năm 1065) khi nhà vua ngự ở điện Thiên Khánh nghe việc kiện tụng, bên cạnh có công chúa Động Thiên đứng hầu: vua nhìn công chúa rồi bảo viên ngục lại rằng: “Ta yêu thương ta cũng như yêu thương thiên hạ. Ta yêu thiên hạ như bậc cha mẹ yêu thương con của họ vậy. Nhưng trăm họ có nhiều kẻ không hiểu biết, tự dấn thân vào đưòng phạm pháp, ta thương xót lắm vậy. Vậy từ nay tội trạng bất kể nặng nhẹ cũng nên theo một cách là khoan thứ cho họ”.Mùa xuân 1066 đổi niên hiệu là Long Chương Thiên Tự năm thứ nhất… Gả công chúa Thiên Thành cho Thân Đạo Nguyên.Năm Mậu Thân (1068) đổi niên hiệu là Thiên Huống Bảo tượng thứ nhất sau khi nhận 2 con voi trắng (Trời cho con voi trắng).Năm Kỷ Dậu (1069) bỏ niên hiệu Thiên Huống lấy niên hiệu Thần Võ thứ nhất: thân chinh chiếm thành Phật Thệ (quốc đô Chiêm Thành nay là làng Nguyệt Bậu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên), phá rụi hơn 2660 căn nhà dân, bắt vua Đệ Củ của Chiêm Thành về Thăng Long. Năm Thần Võ thứ 2 (1070) xây chùa Đông Nam Nhị Thiên Vương. Năm Thần Võ thứ 3(1071) vua viết chữ Phật dài 6 trượng” có sử ghi dài 1 trượng 66 thuớc. Năm 1072 vua qua đời, an táng tại Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức.Vua Lý Thánh Tông được sử sách ghi nhiều câu nói đầy lòng nhân ái suốt những năm lấy thiên đạo làm kim chỉ nam. Chỉ những năm cuối đời, lúc bỏ chữ Thiên làm niên hiệu để mặc lấy chữ Võ thay vào thì thấy để lại những sự việc đáng tiếc, nhất là đối với dân tộc Chiêm Thành.Vua Thánh Tông băng được dâng tôn hiệu với câu đầu là: “Ứng Thiên Sùng Nhân chí đạo…”Vua Lý Nhân Tông sinh năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất (1066) bởi Nguyên phi Ỷ Lan, khi lên ngôi, lấy tôn hiệu mở đầu bằng câu: Hiển Đạo Thánh… lấy sinh nhật làm tiết Thọ Thiên và tôn mẹ lên bậc Thái Phi. Bà Thái Phi Ỷ Lan sau nầy vì chuyện tranh quyền hành hay vì có tính hay ghen ghét đã nhúng tay vào việc giam giữ Thái Hậu Thượng Dương và 72 thị nữ rồi bức bách bắt đem chôn sống theo vua Thánh Tông. Sau vụ việc nầy bà nghiểm nhiên làm Thái Hậu lấy tên là Linh Nhân. Sử ghi là bà giỏi về chính sự: như việc ở nhà yên trị giữ nước để cho vua (Thánh Tông) đi đánh giặc, và vào cuối đời (1103) Bà hay làm việc tế bần như xuất tiền trong kho ra để chuộc lại số con gái nhà nghèo bị cầm thế, đem về gả cho những người góa vợ và cho xây nhiều chùa chiền thờ Phật như để sám hối về việc đã lỡ làm xưa.Triều đại nầy sử nhắc nhiều đến việc Chiêm Thành đi cống 2, 3 lần trong năm: cống mùa đông, mùa thu, có khi cả mùa hè và Chân Lạp cũng cống mỗi năm 1,2 lần. Không thấy nhắc nhiều tên gọi có chữ Thiên như các đời vua truớc, chỉ có 2 lần kể trên và 2 lần cuối với niên hiệu là Thiên Phù Duệ Vũ thứ nhất (Canh Tý 1120) sau khi nhà Tống phong cho chức Thủ Tư Không, và Thiên Phù Khánh Thọ (1127) sau khi nước Tống loạn to. Cũng năm ấy vua từ trần và an táng tại Phủ Thiên Đức.Vua Lý Thần Tông lên ngôi năm Thiên Phù thứ nhất (1127) ở điện Khổn Thiên, lấy tôn hiệu Thuận Thiên Quảng vận khâm minh nhân hiếu Hoàng đế. Năm 1128 lấy niên hiệu Thiên Thuận, sách lập con gái của Lý Sơn là Lệ Thiên hoàng hậu. Lá phướn của hai chùa Thiên Long và Thiên Sùng không gió mà tự lay động như múa. Vua ngự xa giá đến hai chùa ấy để lễ tạ. An táng vua Nhân Tông ở lăng Thiên Đức. Lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên Thụy. Năm 1129, Chân Lạp đánh phá Nghệ An, dẹp được giặc, năm 1129 làm lễ mừng tại gác Thiên Phù về việc 84000 bảo tháp đã hoàn thành (tháp nhỏ bằng đất nung). Năm 1132 sinh hoàng thứ trưởng tử đặt tên là Thiên Lộc. Dựng điện Cảm Linh và gác Phụng Thiên. Năm 1133 đổi niên hiệu là Thiên Chương Bảo Tự thứ nhất. Năm 1134 dựng hai chùa Thiên Ninh và Thiên Thành. Vua được rùa mắt có 6 ngươi, bèn xuống chiếu cho các học sĩ và các tăng đạo biện nhận, đọc thành tám chữ: Thiên thư hạ thị thánh nhân vạn tuế. Năm 1136 Hoàng trưởng tử sinh được đặt tên là Thiên Tộ. Tô Vũ dâng rùa thần. Các quan nhận ra bốn chữ “Nhất thiên vĩnh thánh”. Năm 1137 vua ngự đến chùa Báo Thiên, làm lễ Phật Pháp Vân để cầu mưa. Đêm ấy mưa to. Năm 1138 vua qua đời, an táng tại phủ Thiên Đức.Vua Lý Anh Tông tên húy là Thiên Tộ lấy tôn hiệu bằng câu đầu: Thể Thiên thuận đạo… Năm 1147 dựng 6 sở kho Thiên Tư. Tháng 11 làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng. Năm 1149 công chúa Thiên Thành mất. Năm 1153 xây cung điện Ngự Thiên. Năm 1155 làm cung Lệ Thiên. Tháng 12 làm hành cung Ngự Thiên.Năm 1158, xây chùa Chân Giáo ở Hà nội. Nhà vua hạ chiếu lấy vàng ở trong kho ra mạ tượng Phạn Vương và tượng Đế Thích rồi cho đặt vào chùa Thiên Phù, chùa Thiên Hỗ (có sách chép là Thiên Hựu). Cây cột chùa Thiên Phù, Thiên Hỗ chảy máu. Năm 1164 sửa lại điện Thiên An.Nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ làm An nam quốc. Trước đó gọi là Giao chỉ Quận Vương. Thật ra quốc hiệu vua Lý Thánh Tôn đã đặt là Đại Việt từ năm 1054. Năm 1168 công chúa Thiên Cực về với quan Lạng châu mục là Hoài Trung Hầu. Sau khi trao 10 con voi cho nhà Tống làm lễ Nam Giao, đổi niên hiệu năm 1174 là Thiên Cảm Chí Bảo thứ nhứt. Theo sử cũ, Nhà Tống gọi nước Việt ta là nước An Nam, vua là Quốc Vương quốc hiệu được lập bắt đầu từ đó. Vua băng năm Thiên Cảm chí bảo thứ hai và an táng tại phủ Thiên Đức.Vua Lý Cao Tông lên ngôi, tôn mẹ là Thái Hậu Chiếu Thiên Chí Lý, và lấy tôn hiệu là Ứng Thiên ngự cực hoành văn hiến vũ…. đạo chí nhân ái.Năm 1179, có động đất. Thái úy Tô Hiến Thành chết. Vua bớt ăn 3 ngày, nghỉ thiết triều 6 ngày. Nhà vua và Thái hậu xem con em các bậc tăng quan (thày tu làm quan) thị tụng kinh Bát Nhã. Coi khoa thi Tam giáo. Năm 1180: nhà vua xuống chiếu cho hàng Tam giáo (Nho Phật Lão) sửa sang các văn bia ở trong đại nội. Năm 1186, tháng giêng, nhà Tống phong vua làm An Nam Quốc Vương, chế thư đại khái nói: “Ngay bắt đầu đã phong cho tước ấp ở một nước yên vui, được theo lệ cha truyền con nối ban sắc mệnh cho được thực thụ tước vương, cần gì phải đợi thăng dần theo thứ tự” (ý nói không theo thứ tự thăng dần từ Qiao chỉ Quận Vương rồi Nam Bình Vương rồi An Nam Quốc Vương). Năm 1187, tháng 7, bắt được voi trắng đặt tên là Thiên Tư (của Trời). Xuống chiếu đổi niên hiệu là Thiên Tư Gia Thụy năm thứ nhất. Năm 1188, đại hạn, vua đến chùa Pháp Vân để đảo vũ, nhân rước tượng Phật Pháp Vân về chùa Báo Thiên. Năm 1194, mưa đá, có tảng to bằng đầu ngựa. Đóng thuyền Thiên Long. Năm 1195: động đất. Năm 1197, vua ngự ở điện Thiên Khánh để cân nhắc phán xét các tội ngục hình. Năm 1202, động đất, hoàng tử Thầm sinh. Đổi niên hiệu là Thiên Gia Bảo Hựu năm thứ nhất. Năm 1203, Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai xây cất cung mới ở phía tây tẩm điện. Ở giữa dựng điện Thiên Thụy. Bên tả dựng điện Dương Minh. Bên hữu dựng điện Thiên Quang. Phía trước là điện An Chánh Nghi. Ở trên lại dựng điện Kính Thiên. Năm 1205 Điện Thiên Thủy xây cất hoàn thành, nhà vua cho quần thần ba ngày dự yến tiệc. Năm 1206, nhà vua ngự ở gác Kính Thiên, tháng ba cung Phụng Thiên bị cháy. Năm 1207-8: giặc cướp nổi như ong. Đói to, người chết nằm gối lên nhau. Năm 1210 vua băng.Vua Lý Huệ Tông kế vị (1211-1224) không thấy có chữ Thiên, loạn lạc: giặc trong giặc ngoài tứ tung. Năm cuối đời có lúc phát điên. Quyền trong nước dần dần về tay người khác. Vua xuất gia ở chùa Chân Giáo truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh.Vua Lý Chiêu Hoàng (1224) công chúa Chiêu Thánh với tên húy là Phật Kim sau đổi là Thiên Hinh lên ngôi lấy tôn hiệu là Chiêu Hoàng và đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo. Ở ngôi được hai năm rồi truyền ngôi cho họ Trần.Kết thúc một triều đại mà chữ Thiên được đặt lên hàng đầu trong các danh gọi: từ tôn xưng, niên hiệu, sinh nhật, tên công chúa chí đến cung, điện, chùa chiền, lăng phủ, sông rạch.Qua đến đời Trần: chữ Thiên được nhắc ở tôn hiệu năm đầu (1225) là “Khải Thiên lập cực chí nhân chương hiếu hoàng đế” và năm 1232 vua Trần lấy niên hiệu là Thiên Ứng Chính Bình và năm 1369 là năm Thiên Định. Được một năm là dứt điểm.Thế là chấm dứt cả mấy thế kỷ liên tục lấy chữ Thiên làm chủ đạo trong việc cai trị đất Đại Việt (216 năm triều Lý). Kết thúc trang sử đời Lý, sử thần Ngô sĩ Liên viết như sau: “Từ đời Huệ Tông trở lên đến Thái Tổ là tám đời mà Huệ Tông tên là Sảm, tức là mặt trời gác núi, hết bóng. Thế thì nhà Lý được nước là tự trời, mất nước cũng là tại trời vậy”. “Thiên”: một chữ gợi nhiều âm hưởng trong tâm thức dân gian.Các vua thời đại cựờng thịnh của Đại Việt đã hiểu thấu tâm cảm của dân gian nên chi đã chẵng ngần ngại coi việc mình lên trị vì thiên hạ là một việc Ứng Thiên, Thiên định, Thiên Hựu do vậy phải chăm lo săn sóc dân chúng cho họp đạo Trời: Thiên đạo. Phải lo xây cất những chùa chiền Phụng Thiên, điện đài Kính Thiên, để tỏ bày lòng thành kính cho thuận với lòng Trời: Thuận Thiên. Như vậy Thiên Ý mới được Thiên Thành. Trong ý hướng đó điện Kính Thiên (1202) phải ở trên trước các điện khác, không phải ở bên tả hữu hay ở giữa mà phải ở trên trước (xem phần lịch sử ở trên). Và để kiểm chứng hành vi cai trị có họp Thiên ý và Thiên đạo hay không, ngoài việc tế Nam Giao còn phải báo đáp, báo ân Trời và tường trình báo cáo Trời về công việc của mình. Nơi thể hiện tâm ý báo đáp, báo ân, báo cáo đó phải ở trên trước cao tận Trời với Tháp Báo Thiên (xây năm 1057). Tính cách nổi vượt này đã được nhà thơ lớn Phạm Sư Mạnh (đời Trần) diễn tả như sau:Trấn áp đông tây củng đế kỳ,Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguySơn hà bất động kình thiên trụKim cổ nan ma lập địa chùy.(Đề Báo Thiên tháp)Trấn áp đông tây, giữ vững kinh kỳ,Ngọn tháp sừng sững trội vượt hẳn lên.Chiếc cột chống trời đứng đó làm cho non sông yên ổn,Như mũi dùi trên đất xưa nay chẳng hề mòn.Bài thơ này diễn tả được tính cách trỗi vượt của Tháp, nhưng chưa chắc diễn đúng ý nghĩa của tên Tháp là Báo Thiên, bởi lẽ trên đỉnh tháp có hàng chữ Đạo Lý Thiên một thể hiện cung kính rõ rệt về đạo lý của Đấng Tối Cao (Ông Trời) mà từ vua tới dân trong cả nước cần chiêm bái và tuân thủ vâng phục, chứ có lẽ nào dựng cột để chống Trời như thi sĩ đời Trần kia!Chữ Thiên qua suy nghiệm trên không thể hiểu một cách hời hợt phiến diện: tức không thể vì nhà Tống qua hai triều đại Tống Thiên Hy và Tống Thiên Thánh (1012-1031) có dùng chữ Thiên mà nhà Lý bắt chước dùng theo. Cũng không thể coi rằng đây chỉ là do ảnh hưởng Khổng Nho, vì theo thời điểm lịch sử này Phật Giáo mới thịnh hành, chiếm địa vị độc tôn, khiến các sử gia Lê văn Hưu và Ngô Sĩ Liên về sau đã đem lời phê phán chứ Khổng Nho chưa hẳn được thịnh hành và ảnh hưởng sâu rộng ở Đại Việt. Vả lại nếu coi là nhờ ảnh hưởng của các Nho thần đi nữa thì cũng phải hiểu Khổng Nho cũng không sáng tạo quan niệm từ không không mà là làm công việc kết đúc định hình hệ thống hóa từ quan niệm “Trời” có sẵn của dân gian, như vậy mới có sức phổ biến và dân gian mới dễ dàng chấp nhận. Hẳn là dân gian Đại Việt đã sống theo tín niệm nầy (chứ không phải nhờ đọc chữ Nho mà biết Trời vì đa số còn ít chữ) nên chi các vua Triều Lý đã nắm bắt được tâm lý ấy để làm nổi bật việc mình lên ngôi vua là “ứng mệnh trời, thuận lòng người “theo như sử thần Ngô Sĩ Liên nhận định. Và khi lên ngai trị vì, “gặp lúc nguy nan thì kêu trời, lúc đánh giặc gặp bất trắc, biết đốt hương khấn trời, xin lòng trời soi xét”. Ngô Sĩ Liên nhận ra niềm tin tưởng đó của vua nên đưa ra lời nhận định rằng: “Trời và người cảm ứng nhau rất nhỏ nhạy, ảnh hưởng rất chóng, ai bảo là trong chỗ tối tăm mặt trời không soi đến ta mà dám dối trời chăng?” Dù sao nếu các nho thần của Triều Lý có đóng góp phần mình để làm nên những niên hiệu, tôn hiệu, danh hiệu, danh tánh có ngữ nghĩa “siêu linh” như thế thì cũng là một việc hợp lẽ Trời và thuận lòng dân vậy.Tháp Báo Thiên là một công trình vĩ đại lưu danh thiên cổ. Đây là một công trình kiến thiết quy mô vĩ đại với bao nhiêu vật liệu đặc sản đồ đồng của nước có Núi đồng (Đồng sơn: phải chăng văn hóa Đông sơn (culture dongson-nienne) là cách nói chệch không dấu của tây phương). Núi đồng là quốc thổ và đồ đồng làm nên trống đồng chủ hữu, chủ địa của dân tộc từ ngàn xưa.Dựng Tháp để tôn vinh đạo lý của Trời cách công khai thanh thiên bạch nhật, xây trên thửa đất cao ráo (gò nổng) và có nhiều tầng để ai dù ở xa cũng phải thấy, phải biết: tính cách đạo lý phải nêu cao. Ngoài ra đạo lý đó còn phải được khắc ghi trong tâm khảm mọi người. Từ vua tới dân, phải lấy luật trời Pháp Thiên làm mẫu mực đức độ, làm ánh sáng chiếu soi: các ngôi Chùa Thiên Đức, Thiên Quang được xây dựng với các tên gọi có ngữ nghĩa tỏ rõ đức sáng của Trời phải chăng là để nhắc nhở dân chúng tề tựu cúng bái ở chùa chiền noi theo đức độ sáng soi chiếu rọi của Trời. Ngoài ra tên gọi Báo Thiên của ngọn tháp cao tận trời nầy tự nó nói lên ý thức của việc báo đáp, báo ân, báo cáo với trời những việc trong nhân gian mà nhà Vua là bậc Thiên tử con trời phải lo chu tất để thi hành nghĩa vụ của mình. Trời là trên trước cần nhắc nhở và kêu gọi nên danh tánh Trời đã được gọi trong tôn hiệu như Ứng Thiên, Thuận Thiên, Thể Thiên, Phụng Thiên, Pháp Thiên; trong niên hiệu như Thiên cảm, Thiên Thuận, Thiên Phù, Thiên Huống, Thiên Thành; trong các ngày sinh nhật, khánh tiết của vua như Thừa Thiên, Thiên Thụy, Thiên Thánh; trong việc đặt tên hoàng hậu như Chiếu Thiên, Thiên Cảm, Lệ Thiên; đặt tên con cái vua như điện hạ Khai Thiên, công chúa Thiên Thành, công chúa Động Thiên, công chúa Thánh Thiên và tất cả những đền chùa cung điện v.v… Tất cả như đều hàm ngụ ý hướng cao cả hướng thượng quy Thiên này.Vị trí xây dựng: Tháp có tên đầu tiên là “Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp” dựng kế bên ngôi chùa có tên là “Sùng Khánh Báo Thiên” nên sau được gọi là Tháp Báo Thiên. Đất Thăng Long nguyên là đồng bằng có nhiều ao hồ sông rạch và đầm lầy mà nay vẫn còn dấu vết. Tìm chỗ cao ráo để xây dựng một công trình to lớn như chùa và Tháp có tầm cỡ bậc nhất như thế, Vua Thánh Tôn phải chọn một quả đồi gần Bờ Hồ Lục Thủy (hồ quanh năm có màu lục). Hồ này trước kia lớn, vua có thể tổ chức đua thuyền, tổ chức trò chơi các dịp lễ lớn, sau vì nhiều công trình kiến thiết Thăng Long làm cho hồ thu hẹp dần diện tích, nay chỉ còn là một hồ nhỏ ta gọi là hồ Hoàn Kiếm.Vật liệu kiến trúc: Hai vật liệu nặng nhất có thể tìm thấy vào thời nầy là đá và gạch nung. Nền tháp bằng đá có 4 góc, tức là theo hình vuông có bốn cửa ăn thông. Gạch xây trên nền đá đều có khắc ghi chữ “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo”: tức là làm đời vua Lý thứ ba có niên hiệu là Long Thụy Thái Bình. Tường vách trang trí còn có những mẩu đá tạc tượng người, tiên, chim muông và các vật dụng như chén bát, giường ghế không thể kể xiết, toàn bằng đá cả. Chiều cao và các tầng: Theo Đại Việt sử lược thì tháp cao tới 30 tầng, nhưng nhiều sách khác cho là 12 tầng với bề cao vài chục trưọng (60-80 m). các tầng trên cùng làm bằng đồng, vật sản văn minh bản địa. Tầng thứ ba trên cửa tháp có khắc chữ “Thiên tử vạn thọ” một lời ước chúc Vua sống trường thọ muôn tuổi. Trên chót đỉnh tháp có hàng chữ “Đạo Lý Thiên” để tỏ rõ Đạo Lý của Đấng tối cao chiếu rọi kháp nhân gian thiên hạ. Vì ở chỗ cao ngất tầng mây không có gì che khuất: từ xa ai cũng trông thấy. Thiền sư Nguyễn Minh Không từ chùa Keo xứ nam, thuyền giăng ba ngọn ngược dòng sông Hồng Hà để tới bến An Duyên (Yên sở, Thanh Trì) đã cho biết nhìn thấy tháp Báo Thiên từ xa, đã để lại bài cảm thán với câu mở đầu như sau:“Tằng tằng bảo sái nhập vân yên…”(Tầng tầng bảo tháp quyện mây trời!)Sách sử đã ghi lại nhiều cảnh mưa lũ, lụt lội, mưa đá giông bảo sấm sét xảy ra thưòng xuyên trên vùng đất nước này. Suốt chiều dài lịch sử với thời tiết bão táp như vậy, không lạ gì một ngôi tháp cao với đỉnh bằng đồng khối bị sét đánh làm gây hư hại nhiều phen. Dù có xuất công quỹ sửa chữa nhưng kinh phí quá nặng: qua đời Lý, đời Trần không đủ sức để trùng tu. Ngay cả những công trình ít tốn kém hoặc dễ hơn, như Chùa Một Cột cũng không khôi phục như nguyên thủy nổi, huống chi ngôi bảo tháp nhiều tốn kém mà sử thần Ngô Sĩ Liên phê là làm “nhọc sức dân, phí của dân”. Vả lại ngay từ cuối đời Lý giặc giã tứ tung, nhiều vụ động đất thiên hạ chết quá nửa, “trời đổ mưa đá, từng tảng đá lớn như dầu ngựa”, hoả hoạn, cung điện lớp bị cháy lớp bị phá, đổ nát hoang tàng, nạn đói người chết xác nằm gối lên nhau, nội loạn nổi lên khiến vua Huệ tông phải ta thán trong một chiếu thư mô tả rằng “chúng đốt sạch cung thất của ta”. Cho đến nỗi các khu xóm ở kinh thành hoá thành đóng tro tàn” – khiến cả Vua và Thái hậu phải sai cất một “ngôi nhà tranh để ở”… bằng ấy cho thấy một công trình vĩ dại như tháp Báo Thiên mà sử thần Lê văn Hưu gọi là “tháp cao ngất trời” khó mà bảo tồn trọn vẹn lâu dài.

  2. Công phu và bổ ích! Chứng tỏ một tình yêu mãnh liệt với quê hương, sự tôn quí những giá trị truyền thống mà tổ tiên bao đời dày công xây dựng. Cảm ơn cháu! Mùa xuân mới đang gõ cửa kìa. Chúc cháu và gia đình một mùa xuân an khang thịnh vượng, luôn tìm thấy niềm vui trong cuộc sống!

  3. RAT MAY MAN ,TOI DANG MUON TIM TAI LIEU LIEN QUAN VOI TU TRAN CUA HA NOI.DAC BIET LA DEN KIM LIEN.VI THEO HIEU BIET CUA TOI DEN KIM LIEN LA NAM O TAY HO GAN KS INTER—-。NHUNG VI TRI CUA DEN NAY KHONG PAHI O PHIA NAM CUA THANH PHO。CHO NEN TOI KHANG DINH DEN NAY KHONG PHAI LA TU TRAN CUA HA NOI。HOM NAY MOI TIM DUOC DAP AN。CAM ON。

  4. Nhai biên ấp thạch xưng tri kỷ. Đài lý tầm thi kiến cố nhân! câu này nghĩa là gì chị ơi???????? hic hic nghe lạ quá muốn bít mà search cũng ko ra

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s