25 – 01: Giao thừa



Trong một năm Việt Nam có rất nhiều lễ Tết, ứng với tiết trời và mùa vụ khác nhau, nhưng lớn nhất, trọng đại nhất vẫn là Tết Nguyên Đán. Tết Nguyên Đán, còn gọi là Tết cổ truyền, Tết Ta, Tết Âm Lịch. Nguyên nghĩa của Tết chính là "tiết". Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.

Theo nghĩa gốc Hán, "Nguyên" là "đứng đầu", còn "Đán" là "buổi sáng". Do đó, "Tết Nguyên Đán" là "Tết mừng buổi sáng đầu năm". Sáng mùng 1 tháng giêng là thời điểm quan trọng nhất, đánh dấu một năm mới chính thức được bắt đầu.

Tết Nguyên đán (Tết Cả) là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Tết Nguyên đán Việt Nam từ buổi "khai thiên lập địa" đã tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân – hạ – thu – đông và quan niêm "ơn trời mưa nắng phải thì" chân chất của người nông dân cày cấy ở Việt Nam…

Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần xum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc cho nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà tổ tiên. Nhiều người muốn được khấn vái trước bàn thờ, thăm lại ngôi mộ hay nhà thờ tổ tiên. Nhiều người cũng muốn thăm lại nơi họ đã từng sinh sống với gia đình trong thời niên thiếu. Ngày tết đem lại một sự khởi đầu mới, rũ bỏ những gì không hay đẹp của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích cũ. Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới.

Tết Nguyên đán của người Việt là một không gian văn hoá độc đáo, rực rỡ sắc màu và linh thiêng. Sau Tết là việc tổ chức lễ hội cổ truyền hay còn gọi là hội làng ngày xuân. Hội làng là biểu trưng của các làng người Việt cổ, đây được coi là thời điểm cuốn hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm, thuần Việt nối đời và mang tính cộng đồng sâu sắc, cùng nhau đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã…

Nguồn gốc của Tết Cổ truyền
Truyền thuyết và lịch sử Việt Nam cho thấy: Họ Hồng Bàng dựng nước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 trước công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chưng, bánh dầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu – con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6. Có thể nói, nước ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của người Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo – thứ thực phẩm chính nuôi sống con người, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp được chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm.

Tuy nhiên, Tết cổ truyền ở Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng từ văn hoá Trung Quốc. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang – quan nước Tàu sang nước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Bánh chưng vuông tượng trưng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn – nơi người dân trồng cây lúa nước nuôi sống chính mình. Bánh giày tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Người Hoa thường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu tượng, đôi khi như ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.

Lý giải Tết trước hết là Tết của người Việt, GS Trần Quốc Vượng xuất phát từ sự giải thích lịch cổ truyền Kiến Dần. Kiến Dần có nghĩa là lấy tháng Giêng, tháng Dần, làm chính sóc, đầu năm mới. Lịch này cũng bắt đầu ở Trung Hoa từ thời Hán Vũ Đế (140 trước công nguyên). Người ta bảo đấy là sự trở lại lịch nhà Hạ.

Chính vì quan điểm này, người ta cho rằng Tết có cội nguồn Trung Hoa. Nhưng theo GS Trần Quốc Vượng, nhà Hạ bên Trung Hoa vẫn còn là huyền thoại và hiện vẫn chưa có sự nhất trí trong việc xác định văn hoá Hạ và nhà nước Hạ.

Giới khảo cổ chỉ biết tương đối chính xác về đời Thương – Ân, văn hoá Thương – Ân, và nhà nước Thương – Ân cùng những "mảnh vụn" lịch can chi Thương – Ân. Mà nhà Ân thì kiến Sửu, tức lấy tháng Mười Hai theo lịch bây giờ làm chính sóc. Còn nhà Chu thì kiến Tý, lấy tháng Mười Một làm đầu năm.

Lịch ta còn gọi tháng Mười Một là tháng Một phải chăng là một vang bóng muộn màng trong truyền khẩu về cái lịch đời Chu này giữa văn hoá Thương – Chu và văn hoá Bách Việt hay Việt cổ? Từng có quan hệ giao lưu tìm thấy trong nhiều di tích văn hoá Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng, đầu thời đại Đồng cách đây 4.300 năm, với những đá, liễm đá có phong cách Ân, lịch Mường cổ truyền so với lịch Việt kiến Dần là "ngày lui tháng tới" cũng là lịch kiến Sửu của Thương – Ân. Song cội nguồn của văn hoá Thương – Ân cũng còn là vấn đề thảo luận. Có người cho văn hoá Thương – Ân có gốc từ phương Nam Tày – Thái cổ. Có người cho nó ảnh hưởng từ văn hoá Babylone, v.v…

Nhà Tần thống nhất Trung Hoa, dùng lịch kiến Hợi, lấy tháng Mười làm tháng đầu năm. Nhà Hán lên (năm 206 trước công nguyên) ban đầu vẫn theo lịch Tần cho đến đời Hán Vũ Đế (140 trước công nguyên) mới theo lịch kiến Dần và bảo là để khôi phục lịch nhà Hạ, "Hành Hạ Chi Thời", theo Nho Giáo.

Tết như được xác định vào thời điểm hiện tại là nương theo lịch này và, do vậy, có thể gọi là Tết Việt – Hoa. Các vua nhà Hán như Hán Vũ Đế, người quyết định thi hành lịch này, quê gốc ở đất Bái, nước Sở thuộc Giang Nam là vùng văn hoá lúa nước chứ không phải là văn hoá kê mạch Hoa Bắc.

Sang thời Hán cho đến nay, trung tâm sản xuất nông nghiệp, vựa thóc chính của Trung Hoa, là Hoa Nam trồng lúa nước chứ không phải là Hoa Bắc trồng lúa mạch.

Cho đến những thập kỷ gần đây, Hoa Nam vẫn phải cung cấp lương thực cho Hoa Bắc. Bởi vậy, từ đời Hán, lịch – mà chức năng chính là để xác định thời vụ sản xuất nông nghiệp – phải nương theo khí hậu thời tiết miền Hoa Nam của Bách Việt hay Việt cổ.

Tóm lại, cái Tết như hiện nay bắt đầu khoảng trước công nguyên hơn 100 năm từ đời Hán và có cội nguồn đan xen văn hoá Việt Hoa. Văn minh Trung Hoa bắt nguồn từ bình nguyên hoàng thổ Hoàng Hà, cùng với sự bành trướng của người Hoa xuống Hoa Nam, đã tích tụ và hội nhập nhiều nhân tố văn hoá phương Nam, miền Việt cổ. Lâu dần, với thư tịch và văn tự Trung Hoa, mọi nhân tố văn hoá Việt cổ ấy được xem là của người Hoa và được Hoa hoá. Về sau, người ta gán mọi thành tựu sáng tạo văn hoá cho người Hoa.

Ngày nay, cùng với người Hoa, người Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Triều Tiên, Mông Cổ, Tây Tạng, Nepal, Bhutan, H'mông Trung Quốc cũng tổ chức Tết âm lịch và nghỉ lễ chính thức.

Phong tục ngày Tết
Phong tục dón tết cổ truyền ở Việt Nam có nhiều nét độc riêng, bắt nguồn từ những điển tích, huyền thoại xưa. Những phong tục này được duy trì cho đến ngày nay, và đều thể hiện những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt, mang nhiều ý nghĩa thực tế trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

Tục Tảo mộ
Phong tục thuần tuý Việt Nam trong dịp Tết là tục tảo mộ cuối năm hay vào những ngày đầu năm mới. Vào những ngày cuối năm hay đầu năm, các gia đình thường tụ họp ở nghĩa địa để sửa sang, quét dọn phần của tổ tiên và những thân quyến quá cố. Họ đem hương hoa lễ vật bày ở mộ và "cung thỉnh" hương hồn những người quá vãng về nhà ăn Tết cùng con cháu…

Tục tảo mộ Tết này, trước các thời kỳ chiến tranh vẫn còn được duy trì nhiều nơi ở miền Bắc và nhiều tỉnh ở miền Trung như ở Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa v.v… Theo sách "đại Nam thống Chí", nhiều nơi ở miền Bắc nhất là quanh vùng Hà Nội còn có tục cả họ (nghĩa là tất cả mọi người trong cùng một gia tộc) tụ họp nhau lại để cùng đi tảo mộ tổ tiên và thân quyến quá cố, vào những ngày trước tết… Có nơi thì đi thăm mộ vào những ngày đầu năm. Tục tảo mộ Tết này được gọi là Lễ Tổ Lạp.

Tục chưng hoa ngày Tết
Chưng hoa ngày Tết là một nhu cầu làm đẹp của dân tộc ta, có truyền thống từ ngàn xưa và mang nhiều ý nghĩa. Hoa được coi là yếu tố tinh thân cao quý, thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa đào, miền Nam có hoa mai. Đây là 2 loại hoa tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình người Việt.

Ngoài ra, người ta còn chưng thêm cây quýt chín đầy quả vàng mọng, đặt ở phòng khách như biểu tượng của sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc. Trên bàn thờ gia tiên cắm những bông vạn thọ, những cành phát lộc… với ý nghĩa thể hiện ước vọng của mọi người là năm mới khoẻ mạnh, trường thọ, phát tài phát lộc hơn năm cũ.

Tục chưng mâm ngũ quả
Trong ngày Tết không thể thiếu mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên. Năm loại quả này phải đại diện cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thông thường người ta chọn yếu tố màu sắc đặc trưng của ngũ hành: màu trắng là màu của Kim, màu xanh lá cây là màu của Mộc, màu xanh lam hay đen là màu của Thủy, màu đỏ là màu của Hỏa, màu vàng là màu của Thổ.

Ngoài ra, tên của loại trái cây mang một ý nghĩa rất quan trọng, gắn liền với sự sung túc, sức khỏe và may mắn như : Mãng Cầu, Dừa, Đu Đủ, Xoài, Đào Tiên, Táo, Dưa Hấu… Mâm ngũ quả biểu tượng cho lòng biết ơn ông bà, tổ tiên của mỗi người Việt, cũng như lòng mong ước một năm mới an khang, nhiều may mắn, tốt đẹp. Chung lại, mâm ngũ quả là những loại trái cây chứa nhiều chất dinh dưỡng. Ngũ quả là lộc trời. Chưng mâm ngũ quả ngày Tết có ý nghĩa nói lên ước vọng của gia đình bước sang năm mới được no đủ, sung túc.

Tống cựu nghênh tân
Vào dịp cuối năm, mọi người đều quét dọn nhà cửa sạch sẽ, vứt bỏ mọi rác rưởi, dọn dẹp, trang trí bàn thờ, lau dọn, cắt tóc, mua sắm quần áo mới. Mọi người đều nhắc nhở con cháu, người thân của mình kể từ giờ phút giao thời trở đi không được nghịch ngợm, cãi vã, không nói tục, chửi bậy, cha mẹ anh chị không trách phạt, quở mắng con em mình. Đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, rạng rỡ, vui vẻ, niềm nở chúc nhau những điều tốt lành.

Cúng Tất niên
Lúc đầu được hiểu như là hoàn tất (công việc) trong năm, tức cúng các tổ nghề đã phù hộ cho công việc làm ăn, nhưng vì không phải thợ nào cũng có vị tổ nghề rõ ràng nên dần dà, mọi người đều cúng. Lễ cúng này thường vào các ngày từ sau 23 đến 29 hoặc 30 Tết.

Đón giao thừa
Theo tiếng gốc Hán thì "giao" là "xen kẽ, thay nhau" hoặc "nối tiếp, trao đổi lẫn nhau", còn "thừa" là "đảm nhận, thi hành" hoặc "thừa kế, kế tiếp". Do vậy, giao thừa tức là vào lúc 12h đêm 30 tháng Chạp âm lịch. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hoà với thiên nhiên, tổ tiên trở về sum họp với con cháu.

Cúng Giao thừa hay lễ Trừ Tịch: Theo tục lệ cổ truyền thì "giao thừa" được tổ chức nhằm đón các thiên binh. Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Mâm lễ được sắp bày với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Lễ giao thừa được cúng ở ngoài trời là bởi vì các cụ xưa hình dung trong phút cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương luôn có quân đi, quân về đầy không trung tấp nập, vội vã (nhưng mắt trần ta không nhìn thấy được), thậm chí có quan quân còn chưa kịp ăn uống gì.

Những phút ấy, các gia đình đưa xôi gà, bánh trái, hoa quả, toàn đồ ăn nguội ra ngoài trời cúng, với lòng thành tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ và đón người nhà trời mới xuống làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã. Đôi khi có thêm chiếc mũ của Đại Vương hành khiển. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị không thể vào trong nhà khề khà mâm bát mà chỉ có thể dừng vài giây ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà.

Người ta cúng giao thừa tại các đình, miếu, các văn chỉ trong xóm cũng như tại các tư gia. Bàn thờ giao thừa được thiết lập ở giữa trời. Một chiếc hương án được kê ra, trên có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm: chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã, đôi khi có thêm chiếc mũ của Ðại Vương hành khiển.

Lẽ trời đất có khởi thuỷ phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc. Bắt đầu vào lúc giao thừa, và cũng kết thúc vào lúc giao thừa. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để "khu trừ ma quỷ".

Ðến giờ phút trừ tịch, chuông trống vang lên, người chủ ra khấu lễ, rồi mọi người kế đó lễ theo, thành tâm cầu xin vị tân vương hành khiển phù hộ độ trì cho một năm nhiều may mắn. Các chùa chiền cũng cúng giao thừa nhưng lễ vật là đồ chay. Ngày nay, ở các tư gia người ta vẫn cúng giao thừa với sự thành kính như xưa nhưng bàn thờ thì giản tiện hơn, thường đặt ở ngoài sân hay trước cửa nhà.

Sau khi cúng Giao thừa xong, các gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái) để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Ở Nam bộ, Thổ Công được thay bằng Ông Địa và thờ ở dưới đất. Sau khi cúng xong, xem như Tết thực sự đã đến với gia đình. Sau khi cúng giao thừa xong, cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu xuân, con cái chúc thọ ông bà, cha mẹ, người lớn lì xì cho trẻ tiền quà mừng tuổi đựng trong bao giấy đỏ như một sự may mắn trong năm mới.

Tục "xông đất" ngày Tết
Với ngày đầu tiên trong năm, Tết có một ý nghĩa đặc biệt trang nghiêm. Vì là ngày bắt đầu một năm nên mọi công việc làm trong 24 giờ đều có ảnh hưởng đến trọn năm. Sự xông đất, xuất hành những cử chỉ đầu tiên, những lời nói đầu năm là điều mà ai cũng phải cẩn trọng. Trong tất cả mọi việc, tục xông đất được coi là quan trọng hơn hết.

Sau giao thừa, người nào từ ngoài đường bước vào nhà được gọi là người "xông đất", nếu là người "tốt vía" thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn. Vì vậy, người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân, với mong muốn mang lại sự tốt lành cho gia đình trong suốt năm mới.

Tục chúc Tết
Với ý nghĩa nhân sinh tốt đẹp, Tết Nguyên Đán được cho là Tết của mọi gia đình, của mọi nhà. Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là những ngày quan trọng, tươi vui nhất, là ngày đoàn tụ, đoàn viên của mọi gia đình. Đây cũng là dịp để mọi người có điều kiện thăm hỏi lẫn nhau: con cháu thăm hỏi ông bà, cha mẹ, chú bác; học trò thăm hỏi thầy cô, gặp mặt bạn bè chúc tụng.

Lời chúc Tết thường là chúc sức khoẻ, phát tài phát lộc, tai qua nạn khỏi, gặp nhiều may mắn, tốt lành. Đây là một nét đẹp văn hoá, thể hiện lòng quan tâm lẫn nhau của dân tộc Việt Nam, mong muốn đem dành tặng nhau những lời tốt lành, những niềm hy vọng tốt đẹp.

Các phong tục đầu năm là những nét đẹp trong truyền thống văn hoá của dân tộc, vẫn luôn được con cháu Việt Nam tiếp tục duy trì và gìn giữ. Với những nét đẹp trong các phong tục truyền thống, Tểt Nguyên Đán mang những ý nghĩa đầy nhân bản, đang và sẽ tiếp tục sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt.

Tục Kiêng quét nhà trong 3 ngày Tết
Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà nuôi nó được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mồng một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không dám hót rác ngày Tết.

Sau này, ai cũng kiêng hót rác ba ngày Tết, dầu bận rộn đến đâu cũng phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ trước lúc giao thừa và trong những ngày Tết thì mọi người phải hết sức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi, họ sợ rằng sẽ quét hết vận đỏ đi.

Ở Nam Bộ sau khi quét dọn phải cất hết chổi, nếu trong ngày Tết bị mất chổi có nghĩa là năm đó nhà sẽ bị trộm quét sạch của cải. Ở nông thôn ngày Tết nhà nào cũng rắc vôi bột ở bốn góc vườn, rồi vẽ mũi tên hướng ra cổng để xua đuổi ma quỷ, hung thần bốn phương kéo đến gieo tai hoạ. Còn thành thị thường hay treo “quả bùa gỗ” để trấn ma quỷ.

Tục Xông nhà
Xông nhà ngày Tết là một việc hết sức trọng đại vì thế hầu như nhà nào cũng kiêng kị rất cẩn thận. Bởi nếu không những điều xấu sẽ vận vào bản thân, gia đình mình. Vì sợ “dông” nên phải chọn người xông nhà, tuổi tính theo hàng can không xung với năm đó và không xung tuổi với chủ nhà. Người ta thường chọn những người gia cảnh song toàn, con cháu đông đàn dài lũ, làm ăn thịnh vượng, vì thế mới có lệ “hẹn trước”, mời đến xông nhà. Người Nam Bộ còn có thói quen chọn người có tên đẹp như Phúc, Lộc, Thọ, Tài, Lợi… mời đến xông nhà để cả năm sẽ thuận lợi, may mắn. Thật không may cho nhà ai bị những người nặng vía xông nhà, hoặc mùng một Tết có người đến nhà xin lửa, xin nước. Thường thì trước khi bước sang năm mới ở nông thôn nhà nào cũng lo đổ đầy nước vào bể, vào chum hoặc vại.

Từ trong tâm thức người ta tin rằng năm mới đến sẽ đem theo của cải nhiều như nước. Chẳng thế mà sáng mùng một Tết rất nhiều nhà, nhất là ở phố phường xưa kia hay thuê người gánh nước đến. Họ được mừng tuổi đôi ba hào, thế là cả chủ nhà lẫn người quẩy thuê cả năm sẽ đều may mắn. Một điều nữa cần nói đến là trong ngày Tết mọi người đặc biệt quan tâm đến cách ứng xử với hàng xóm láng giềng, bạn bè và những người trong gia đình. Ai cũng tỏ ra vui vẻ, hồ hởi, thân tình trong không khí ấm áp của mùa xuân. Ai cũng ngại và sợ to tiếng hoặc xô xát thì quanh năm sẽ bị dông. Giá như điều kiêng kị này cứ giữ được trong cả năm thì hay biết bao.

Xuất hành và hái lộc
"Xuất hành" là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần… Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một "cành lộc" để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục "hái lộc". Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si… là những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắc, miền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.

Thăm viếng họ hàng – để gắn kết tình cảm già đình họ hàng v.v. Lời chúc tết thường là sức khoẻ, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công…; những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau "tai qua nạn khỏi" hay "của đi thay người" nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.

Tết Nguyên đán của người Việt là một không gian văn hoá độc đáo, rực rỡ sắc màu và linh thiêng. Sau Tết là việc tổ chức lễ hội cổ truyền hay còn gọi là hội làng ngày xuân. Hội làng là biểu trưng của các làng người Việt cổ, đây được coi là thời điểm cuốn hút nhất, tưng bừng nhất với những nghi thức tôn nghiêm, thuần Việt nối đời và mang tính cộng đồng sâu sắc, cùng nhau đoàn kết vì một ước nguyện chung cho sự phồn vinh của làng xã…

Cái Tết bắt đầu cho năm mới, hy vọng về mọi sự may mắn tốt lành của mùa xuân nảy lộc đâm chồi, đồng thời cũng bỏ lại tất cả những rủi ro, đen đủi của năm cũ. Lẽ trời đất có thuỷ phải có chung, có bắt đầu thì phải có kết thúc, cho nên trong Tết Nguyên đán, đón lễ Giao thừa chính là thời khắc thiêng liêng nhất, giao lại cái cũ, đón nhận cái mới.
[/SIZE][/I][/ALIGN]

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s