Du xuân đầu năm


Mùng 3 tết Âm lịch (28/01/2009).
7h30am hai đứa đã ngồi ăn sáng ở Lê Quýnh rồi qua nhà vợ chồng Vân Anh, sáng đi tối về nên cũng chẳng phải mang vác gì nhiều. Đến giờ hẹn, kéo nhau ra cầu Bính đã thấy vợ chồng 2 nhà Thủy và nhà Mít đứng chờ từ trước, áo khoác lớn áo khoác bé mà trông đứa nào cũng co ro vì lạnh :D. Thời tiết mấy ngày tết rét khủng khiếp, hôm nay ngoài trời nhiệt độ chắc chỉ khoảng 12 độ…


Sau khoảng 25 phút đua tốc độ đã đến quốc lộ 18A, rẽ trái đi thêm gần 2 km nữa đã thấy phía bên tay phải thấp thoáng tấm biển chỉ dẫn đường vào khu danh thắng Yên Tử. Giảm tốc một chút, từ từ bò lên dốc đường tàu, đi qua dưới cổng chào màu đỏ với dòng chữ vàng “Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử kính chào quý khách”, bắt đầu vào địa phận thôn Cửa Ngăn. Đường vào thôn Cửa Ngăn mới được làm lại bằng những khúc quanh co đổ bê tông nối liền nhau, hai bên là hai hàng bạch đàn cao vút che phủ trên đầu, khiến cho đoạn đường trở nên tối hơn bình thường. Theo truyền thuyết, đây là nơi ngăn cách giữa thế giới trần tục và danh sơn phúc địa.


Vừa đi vượt qua khỏi rặng bạch đàn đã thấy cao vượt giữa vòng cung núi non trùng trùng điệp điệp của vùng Đông Bắc là đỉnh Yên Tử chìm trong mây trắng mờ mịt, trải mình dưới màu xanh ngút ngàn của hoa lá cây rừng. Chính vì lẽ đó mà xưa kia núi này còn được gọi là Bạch Vân sơn – tức là núi Mây Trắng.


Phóng tầm mắt lên cao đã thấy đỉnh núi thiêng mờ mờ trong làn mây trắng mỏng bao quanh. Vẫn còn lác đác chút sương mù của buổi sớm mùa xuân xen lẫn khí lạnh heo hút nơi rừng thiêng núi thẳm. Đường núi thử sức người, còn đường dốc thử sức… xe, 2 xe Jupiter hóa ra lại khỏe hơn?! Luôn đi trước cách 2 xe Best khoảng chục mét, 4 xe máy cắn đuôi nhau vòng vèo theo những đường cua dốc lên trên núi. Đường đẹp nên tốc độ đi lúc này cũng phải gần 45km/h mặc dù có nhiều đoạn cua khá hiểm. Nhiều đoạn xuống dốc, thả hết ga, ghì cả 2 phanh mà thấy xe vẫn… trôi tự nhiên —> KHIẾP ĐẢM!!!


Khoảng 20 phút sau đã thấy xuất hiện một bãi đỗ xe khá rộng ở bên tay trái, gửi xe máy rồi lững thững đi bộ xuống chùa Suối Tắm.


Suối này tương truyền xưa kia chính là nơi vua Trần Nhân Tông đã dừng lại tắm để gột rửa hết duyên nợ hồng trần trước khi vào nơi đất Phật tu hành đắc đạo, chùa được dựng bên suối, gọi là chùa Suối Tắm (còn có tên khác là chùa Trình). Đi hết mấy bậc thang này là tới sân chùa.


Chùa này chỉ là một ngôi nhà cấp IV với 3 gian nhà ngói trần thấp lụp xụp (cả khu Yên Tử chùa nào cũng được phật tử thập phương thiện tâm công đức tu bổ hàng năm, đẹp mỹ mãn, không hiểu sao chỉ riêng chùa này một mình một kiểu – chẳng giống ai! Hay là cứ Trình thì phải Khổ?!)


Trong gian chính điện lúc này chỉ lác đác khách hành hương, mà cũng lạ, 9 lần tôi đến Yên Tử, cả 9 lần đều không thấy cái chùa này bật đèn bao giờ – trừ mấy bóng đèn nhấp nháy bé tí xíu ở trên vai các bức tượng ở ban Tam Bảo!? Tiếng khấn vái xì xầm hòa lẫn với tiếng chuông mõ leng keng khiến mọi người có cảm giác như đang được dự buổi biểu diễn hòa tấu của Paul Mauriat!!! Ngoài sân chùa, khá nhiều cây sung, cây nào thân cũng bám đầy dây leo xanh lè.


Bên trái chùa, năm ngoái còn là con suối nhỏ lượn ngoằn ngoèo, còn năm nay đã được ban tổ chức di tích cho san lấp thành khu đất rộng để làm mặt bằng tập kết vật liệu xây dựng, không biết sắp tới sẽ xây dựng cái gì?!


Vòng xuống miếu Cô miếu Cậu, suối mùa này cạn trơ đá, mà nước suối hình như cũng mang màu vàng đỏ của cát vàng + đá vôi thì phải, có cảm giác đục hơn những năm trước.


Bốn bề xung quanh toàn vách núi cao ngất, nghe đồn Mobile và Viettel tranh nhau giành danh hiệu "mạng di động sóng khoẻ nhất VN", nhưng giơ điện thoại lên xem không có cột sóng nào?! Muốn gọi điện để tìm đồng bọn lạc đàn cũng không gọi nổi – NHỤC! Lễ xong mạnh đứa nào đứa nấy vòng lên sân chùa tập trung hóa vàng.

Đứng dưới suối chụp lên sân chùa, 2 bên vẫn là 2 cây đại cổ thụ như năm trước, nhưng lau lau lách mọc cao ngang thân người, có thêm 1 khung gạch xây cao khoảng nửa mét để khách hành hương hóa vàng ngay dưới suối.


Rời chùa Suối Tắm, lấy xe, tiếp tục cuộc hành hương lên đỉnh núi. Vượt qua khoảng 20 đoạn dốc uốn lượn – nghe nói đây là đoạn đường đi qua thôn Nam Mẫu (hay Năm Mẫu?!) mà cũng không rõ chính xác là thôn Nam Mẫu ở đoạn nào – rồi cuối cùng cũng mò tới được Trúc Lâm Thiền Viện. Chắc vẫn còn sớm nên cũng chỉ thưa thớt khách hành hương chứ không đông lắm. Khi xưa chùa này chỉ là một am nhỏ mà Tôn giả Huyền Quang dùng làm nơi tu hành, thấy tấm bia đá bạc màu còn ghi lại bài thơ của ngài như sau (chép tạm bản tiếng Việt):

Am thiền ở lẫn không trung
Cổng ùn mây trắng trập trùng tầng cao
Động Rồng nắng quá cây sào
Mà nơi khe Hổ còn bao tuyết dầy
Vụng về chẳng chước mưu hay
Thân già nương chiếc gậy mây bước từ
Lũ chim rừng trúc đó ư
Thảy đều quen mặt nhà sư thanh nhàn!

Đây là lối vào cổng cũ của chùa Lân.


Muốn vào cổng mới của thiền viện, phải đi lên một đoạn khoảng 50m nữa rồi vòng vào phía tay phải, có bãi để xe bên cạnh vườn trúc khá rộng – nhưng không có người trông xe, khách hành hương phải tự quản lý. Hai bên lối dẫn lên cổng tam quan là hai hàng tháp xây bằng gạch, hai con sư tử đá trắng đang ngoác miệng gầm! Theo triết lý Phật đà, hình tượng 2 con sư tử đá đặt hai bên cổng chùa là tượng trưng cho giáo lý mà đức Phật thuyết pháp cho chúng sinh vang vọng trong khắp nhân gian ba cõi – còn gọi là sư tử hống!


Ở giữa sân, ngay trước chính điện là "QUẢ CẦU NHƯ Ý" màu đỏ tía có đường kính 1,59m, đặt trên bệ đá trắng hình vuông nặng 4 tấn, có dòng chữ nhỏ QUẢ CẦU NHƯ Ý – BÁO ÂN PHẬT TỔ, tất cả đặt trong bể nước hình bát giác với 8 bồn hình cánh hoa bao quanh, 8 vòi nước quanh quả cầu tượng trưng cho ý nghĩa “Bát công đức thủy, tưới mát nhân gian thấm nhuần giáo lý Phật đà, vô ngã, vị tha”.


Giang hồ đồn rằng quả cầu này được chế tác bằng một khối đá hoa cương đỏ sắc tía (Rubi) tại mỏ đá An Nhân (Quy Nhơn) – thuộc loại đá già Granit chỉ có ở phía bắc Ấn Độ và miền Trung Bộ của Việt Nam. Đây là loại đá rất quý, không bị phai màu bởi tác động của môi trường thiên nhiên. Quả cầu này được coi là quả cầu như ý lớn nhất và đẹp nhất Việt Nam hiện nay. Theo giáo điển Phật giáo, cầu như ý tượng trưng cho bản tâm với các đặc tính sáng suốt, viên mãn, tịch chiếu, và vô giá không gì sánh bằng. Bề ngoài tuy đơn giản không có gì cầu kỳ, nhưng thực tế để chế tác được quả cầu như ý này, các cán bộ công nhân viên của công ty TNHH Hà Quang đã phải mất gần 2 năm miệt mài mới hoàn thành được kiệt tác nghệ thuật này. Để tránh khách hành hương tự ý ngắt điện nơi QUẢ CẦU NHƯ Ý nên năm nay ban tổ chức đã dựng một hàng rào thưa bằng I-nox bao quanh quả cầu.


Không thể nói gì hơn, ngoài hai chữ: "Bái phục! Bái phục!"

Toàn cảnh chính điện.

Chiêm bái tượng phật ngự trong chính điện.

Năm ngoái ngay sau chính điện chỉ có bức phù điêu mạ đồng ốp vào tường, diễn tả cảnh đức Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư đang gánh một chiếc dép đi về trời Tây, còn năm nay tượng của ngài được dựng ngay trước bức phù điêu mạ đồng. Hai bên có hai câu đối được kế thừa từ thiền tông Trung Hoa, và từ lâu đã được coi là tâm yếu truyền tông của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: “BẤT LẬP VĂN TỰ, GIÁO NGOẠI BIỆT TRUYỀN – TRỰC CHỈ NHÂN TÂM, KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT”. Chụp ẩu nên ảnh bị chớp ráng đỏ hết nửa phần trên!

Đi qua tiền sảnh của La Hán đường để lên tầng 2 ngắm cảnh. Năm nay ban tổ chức đã tiến hành mở rộng khuôn viên thiền viện, sắp tới sẽ hoàn thiện thêm công trình “Hồ Tĩnh Tâm” giống hệt như khuôn viên của Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.


Hiện tại, lòng hồ vẫn còn ngổn ngang bùn cát chưa được nạo vét khơi thông.



Chụp hất lên mái chùa bên cạnh hồ Tĩnh Tâm.


Bên trái chính điện là gác chuông, thân chuông có vài dòng chữ Hán “Quốc thái dân an” và khắc bài thơ Mộng của hòa thượng Thích Thanh Từ:

“Gá thân mộng, Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi, Cười vỡ mộng
Ghi lời mộng, Nhắn khách mộng
Biết được mộng, Tỉnh cơn mộng”.


Bên phải chính điện là lầu trống, nhưng chỉ trơ trọi dây đỡ dùi trống, còn dùi trống thì không thấy đâu cả.



Rời khỏi thiền viện, đi tiếp lên núi, trời chợt có nắng nhưng cũng không thấy ấm lên chút nào. Đường hẹp nên tốc độ đi khá rùa, chỉ khoảng 25km/h. Năm ngoái ở đoạn này, cứ độ chục mét lại có bức phướn dọc đề mấy chữ "Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên". Năm nay thì không thấy tăm tích đâu cả…


Bãi xe Giải Oan năm nay chuyển hẳn ra ngoài, ở phía bên tay phải, ngay sát quầy bán vé, nhỏ hơn bãi xe cũ và chỉ tập trung trông xe máy. Bãi xe ô tô ở ngoài chỗ ngã ba chia 2 đường rẽ riêng biệt dành cho ô tô và xe máy. Gửi xe ở đây, thành ra phải đi bộ một đoạn khá xa mới vào đến suối Giải Oan.


Hàng quán bán đồ lưu niệm mọc lên san sát nhưng toàn đồ cũ, chắc vì thế nên giá bán cũng thuộc kiểu bèo hơn mọi năm, không đến nỗi "9 tháng mài dao, 3 tháng chém"…

Suối Giải Oan

Thi nhân Lương Ngọc Tùng từng có bài thơ vịnh về suối Giải Oan, bài thơ này được khắc trên một tấm bia đá đã mòn theo dấu vết của năm tháng mà không phải ai đi Yên Tử cũng biết. Bọn tôi số may, đang la cà chụp ảnh ở bờ suối thì gặp được hai người dân bản xứ, nhờ họ dẫn vào tận nơi. Sau 25 phút chịu khó len lỏi vạch lá cây rừng đi sâu vào con đường mòn cắt ngang dòng suối, tấm bia đá in đầy chữ Hán đã hiện ra, chắc quá lâu rồi không có người tu sửa nên chữ nghĩa mờ tịt, chẳng nhìn rõ gì, có chỗ còn bị sứt mất vài miếng, chép tạm bản tiếng Việt ra đây sợ sau này quên mất :D:

Suối này tên gọi Giải Oan toàn
Chùa cũng trùng tên gọi Giải Oan
Phách róc như chiêu hồn tiết phụ
Hương bay còn đượm khói trai đàn
Cảm đoàn hồng phấn duyên vừa bén
Tiếc giấc hoàng lương mộng chóng tàn
Khuê các như ai nhiều nghiệp chướng
Lên đây nước sạch rửa kỳ tan.

Đi trở ra ngoài suối, tiếp lên một đoạn ngắn là đến cổng khu di tích với hàng chữ DANH SƠN YÊN TỬ – THIỀN PHÁI TRÚC LÂM. Phía sau đề hàng chữ THÂN TÂM THƯỜNG LẠC – PHẬT SỰ VIÊN THÀNH. Mấy năm trước vé vào cửa là 5K, free từ năm 2007!



Qua cổng chào, leo núi khoảng 10 phút đã thấy chùa Giải Oan bên tay phải. Chùa dựng bên suối Giải Oan – nơi tương truyền có tới cả trăm cung tần mỹ nữ vì can ngăn vua Nhân Tông xuất gia tu hành không được, đã trầm mình xuống suối. Vua thương xót, lập đàn giải oan cho những linh hồn cung nữ được siêu thăng tịnh độ, đồng thời dựng chùa bên bờ suối để gột rửa hết duyên nợ hồng trần, quyết chuyên tâm nghiên cứu yếu chỉ thiền tông. Vì thế nên chùa và suối đều được gọi tên là Giải Oan. Trải qua hơn 710 năm, ngày nay suối Giải Oan chỉ còn là dòng nước nhỏ, cũng không còn chạy dài lên tới chùa Giải Oan như khi xưa nữa, mà chỉ chảy quanh đến khu vực cầu đá trắng mà thôi.

Chùa Giải Oan này gồm hai gian, một gian thờ Tam Bảo, phía bên trái là gian thờ Mẫu. Rời chùa, đi tiếp lên một đoạn ngắn là vườn trúc Yên Tử.


Vườn trúc Yên Tử.



Đứng ở khu vườn tháp Hòn Ngọc đã nhìn thấy cáp treo, nhưng… đang gặp sự cố – đứng khựng từ nãy đến giờ chưa chạy được.


Ngã 3 đường Tùng – đường Trúc. Chưa biết đi lối nào đông vui hơn. Hai bên đường Tùng trồng toàn giống Xích Tùng của Ấn Độ từ ngày vua Nhân Tông lên núi tu hành, nhiều cây đã được vài trăm năm tuổi, rễ cây nổi gồ lên mặt đường đan xen lẫn nhau, nhẵn bóng dấu chân khách hành hương mỗi năm. Đường Trúc là con đường được mở từ đầu năm 2001, ở phía trên bên trái so với đường Tùng, lát gạch vuông in nổi hoa cúc (kích cỡ 20 x 20 cm?!) – mô phỏng theo hình mẫu sản phẩm nổi bật nhất của nghệ thuật kiến trúc điêu khắc thời Trần.


Đi theo lối đường Tùng.


Vượt qua con đường này là lên đến vườn tháp. Năm nay hai bên đường được xây thêm hai hàng tay vịn bằng đá xanh kéo dài suốt lên tới tận vườn tháp, trên mỗi tay vịn là một bông sen đá.


Sau cửa tò vò là Huệ Quang Kim Tháp, còn gọi là Tháp Tổ – lưu giữ xá lợi của đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Tháp gồm 46 tảng đá ghép, bệ tháp hình đài sen 102 cánh, có pho tượng Ðức Ngài Ðiều Ngự bằng đá cẩm thạch, cao khoảng 60 – 65cm. Tường bao quanh tháp lăng Quy Đức được lợp bằng ngói mũi hài kép – cũng là sản phẩm điêu khắc nổi bật nhất của thời Trần.


Lấy góc chụp không rộng lắm nên chỉ thu được 1 dãy cáp treo chạy chéo qua đỉnh tháp Huệ Quang.


Phía sau tháp Huệ Quang.


Ngay trước Huệ Quang kim tháp là một cây cột thấp – gọi là cột chống trời (kình thiên trụ), quét vôi trắng đã bạc màu, trước đây tôi có dịp được nghe giáo sư Trần Lâm Biền nói về mối liên hệ giữa cây cột này với TÂM ĐẠO từ cửa tò vò ở sau tháp nhưng giờ không còn nhớ ý nghĩa của việc người ta dựng nó ngay trước kim tháp để làm gì…


Vượt qua TÂM ĐẠO – con đường được lát bằng 84 viên gạch vuông màu nâu in nổi hoa cúc hình tròn – 1 sản phẩm điêu khắc nổi bật của thời Trần, bề ngang rộng 3 viên, chiều dài 28 viên. Chụp ngược lại vài kiểu xuống vườn tháp để đánh dấu chặng đường đã đi qua :D.



Tiếp tục leo một đoạn đường dốc khoảng 10 phút là lên đến chùa Hoa Yên.


Hai bên có 2 lối bậc thang, mỗi lối có một cây đại cổ thụ khoảng 710 năm tuổi, được trồng từ khi vua Nhân Tông mới lên núi tu hành (năm 1299?!). Lên tới chùa, chụp xuống con đường vừa đi qua, đã thấy có cảm giác hơi mỏi chân rồi.


Đoạn đường này năm nay được tu bổ lại gần như mới hoàn toàn. Không còn vết tích của những bậc đá cổ kính, thay vào đó là bậc đá nổi vân vuông vức, rễ cây cổ thụ đâm xuyên từ trong đá ra ngoài.


Cây đại cổ thụ (hơn 710 năm tuổi) trước cửa chùa.


Một pô chụp trộm.


Tấm bia đá trước cửa chùa viết bằng chữ Hán, phần lớn đã mờ dần, chẳng còn luận rõ ra được chữ gì…


Zoom 4x xuống bãi gửi xe ở chân núi.


Dãy quán trọ dựng san sát ngay phía dưới chùa Hoa Yên. Đủ cácloại hình dịch vụ, từ dịch vụ điện thoại, tới hát karaoke, tới thuê phòng trọ nghỉ qua đêm… Đồ ăn cũng không thiếu món gì so với các quán nhậu, có cả thịt chó, thịt lợn rừng, đùi ngựa, đùi nai hoẵng treo đầy cửa quán… Có quán còn tận dụng thửa đất hiếm hoi trước cửa, trồng luôn một khoảnh rau sà lách xanh mướt.


Ngồi ăn trưa, tranh thủ chụp cái ảnh.


Vòng sang bên trái chùa Hoa Yên, xuống Thác Vàng chơi. Có tấm biển Vườn Trúc đặt ngay lối rẽ.


Đường xuống thác Vàng (Mấy gốc cây to bự này toàn là đồ… cọp :D, thế mà cũng khối người tưởng thật)


Cả đoàn đi có 8 đứa, giờ chỉ còn 4 đứa xuống thác Vàng; 2 vợ chồng nhà Vân Anh và Mít thì không biết đã mất tích ở đâu – nguy hiểm!


Đá hộc xếp đầy đường, chắc chuẩn bị mở rộng con đường vào Thác Vàng. Đường hiện tại nhỏ quá, hiểm trở chẳng kém gì cửa ải Âm Bình của nước Thục đời Tam Quốc.


Thác Ngự Dội – nơi vua Trần Nhân Tông thường tới tắm vào buổi chiều. Ba chữ THÁC NGỰ DỘI mờ mờ dần trên vách đá. Xung quanh lau lách mọc um tùm.


Đường dẫn vào thác Vàng mới được tu tạo lại bằng dẫy lan can giả thân cây màu đỏ sậm, tạo cảm giác an toàn cho du khách.


Chữ “Phật” sơn đỏ trên vách đá, tìm mãi mới thấy.


Một bên là vách núi dựng đứng, một bên là rừng trúc bạt ngàn.



Tận cùng con đường là Thác Vàng – Giờ chỉ còn là dòng nước nhỏ chảy xuống từ vách đá cao vút phía bên phải, dưới suối nước có tượng vài con hươu vàng lẻ loi nhìn ngó du khách. Chưa đến thì chưa biết Thác Vàng thế nào, đến rồi mới thấy cũng bình thường, chẳng có gì đặc sắc!


Quay trở lại, lên sân chùa Hoa Yên, vòng phía bên phải đi tiếp lên núi, đã nhìn thấy cáp treo chạy từ Hoa Yên lên bãi đá An Kỳ Sinh.



Chụp sang nhà ga cáp treo (lối đi lên đỉnh An Kỳ Sinh)


Đường lên chùa Một Mái.


Về chốn Tổ, quý khách không mang gì về ngoài những tấm ảnh đẹp và không để lại gì ngoài những dấu chân” – Giờ mới hiểu được ý nghĩa của bức phù điêu mô tả cảnh đức Bồ Đề Đạt Ma gánh 1 chiếc dép đi về trời Tây :D.


Chùa Một Mái (Bán Thiên tự) là gian chùa nhỏ nhất trong hệ thống gần 20 chùa của khu danh thắng Yên Tử, chùa nằm ghé nửa mái vào trong gầm vách đá cheo leo, phía dưới là… bãi xả rác, chỉ cách lan can chùa khoảng đôi ba mét (lan can năm ngoái sơn đỏ, năm nay đổi màu sơn đen – chắc để làm nổi màu cửa gỗ của chùa :D)! Trên vách đá ngoài cửa chùa có tấm bia đá mới dựng, có đề bài thơ ngắn trong tập thơ Thi Vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận:

Một mái chùa xưa giữa trần ai
Chênh vênh lưng núi nửa trong ngoài
Hoa bưởi trước chùa đơm trắng xóa
Bạch Vân triền núi một cành mai.


Trong chùa khá hẹp, chỉ đủ chỗ cho khoảng 20 người đứng chen chân. Ngay lối vào là núi gạo và khe nước tiên – giang hồ đồn quanh năm không cạn?! Đi sâu vào phía trong là tượng thờ Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa tuy nhỏ hẹp, trần thấp, nhưng uy nghi kỳ bí.

Ra khỏi chùa Một Mái, có 2 ngả đường: Đi bộ và đi cáp treo (nếu du khách không muốn tận hưởng cái cảm giác chồn chân mỏi gối leo đường núi). Tuy nhiên nếu ngồi trong lồng cáp thì chỉ có thể nhìn xuống dưới thấy bạt ngàn màu xanh của cây rừng. Ngoài ra, chỉ có mây mù và hơi nước bao quanh!!!


Ở đoạn đường này có thể nhìn rõ từng lồng cáp treo chạy qua ngay trên đầu. Mỗi lồng cáp chứa được khoảng 6 du khách (theo tiêu chuẩn người Việt Nam :D).

Lên đến chùa Bảo Sái ở độ cao 800m so với mực nước biển, đứng ở sân chùa, zoom hết cỡ chụp xuống bãi gửi xe Giải Oan, ô tô to bằng hộp diêm, người to bằng… con kiến. Bảo Sái là tên một nhà sư, đệ tử thân tín nhất của Sơ tổ Trúc Lâm, người duy nhất có mặt bên đức Sơ tổ Trúc Lâm khi người viên tịch vào rạng sáng ngày 3 tháng 11 năm 1308.


Zoom 3x thì không nhìn rõ người xe gì, chỉ thấy con đường ruột dê chạy ngoằn ngoèo.


Chùa Bảo Sái.


Tượng đức Sơ tổ Trúc Lâm trong tư thế "Ngọa Vân" ở phía sau Đại Hùng bảo điện.


Càng cấm… càng chụp. Cứ cấm cứ chụp…



Tượng đá của đạo sỹ An Kỳ Sinh.


Bộ đội trên núi cũng kinh doanh.


Chụp ảnh công đức cho 1 child trên núi.



Qua tượng đá An Kỳ Sinh, nhìn xuống đoạn đường vừa vượt qua thấy bất khuất quá. Cho leo lại không biết liệu có còn leo nổi?!


Lên chùa Đồng ở độ cao 1.068m so với mực nước biển. Tự nhiên trời quang đãng, có thêm chút nắng ấm, tầm nhìn khá xa. Đi lễ chùa nhưng vẫn vướng cả đống bụi trần, vừa chụp ảnh vừa tranh thủ đá lông nheo với cô em đang xuống núi:D.





Chùa Đồng tọa lạc đỉnh Yên Sơn
Lô xô sóng núi gió mây vờn
Tiên cảnh Bồng Lai nơi trần thế
Rồng vàng ẩn hiện địa linh sơn.


Các “con chiên ngoan đạo” đang tranh thủ khấn vái đề kịp xuống núi… về nhà. Muốn chen được vào chùa lúc này… hơi khó.


Cổng trời.


Vách núi phía sau chùa Đồng, rác vất tự nhiên như ở… bãi rác Đồng Quốc Bình.


Khánh đá.


Đứng ở chùa Đồng là đứng trong biển mây, trời thoắt nắng, thoắt râm, ngọn sú, mái chùa, bia Phật chợt hiện ra lờ mờ, chợt lại biến mất. Lúc gió ngừng thổi, mây đột ngột buông xuống vây quanh chóp núi trắng xóa. Lúc trời quang mây, đứng ở chùa Đồng, tầm mắt có thể bao quát cả không gian bao la hùng vĩ của vùng Đông Bắc tổ quốc. Khi đứng trong không gian bao la, núi non hùng vĩ này, ta mới thấy hết được nét xảo diệu trong ngọn bút của danh nhân Nguyễn Trãi trong bài thơ “Đề chùa Hoa Yên núi Yên Tử”:

Yên Tử cao ngất tầng không
Mới canh năm đã ửng hồng ban mai
Mắt nhìn thấu tận xa khơi
Người đâu giữa nói giữa cười mây xanh
Cửa tre sáo ngọc buông mành
Tua châu rặng đá bủa quanh lưng trời
Vua xưa miếu cũ đó thôi
Ánh con ngươi chiếu sáng ngời hào quang
”.



Xuống núi, đi lối này vừa để tránh tắc đường, vừa để vãn cảnh chùa Vân Tiêu.


Đứng ở sân chùa, nhìn xuống phía dưới đã thấy tháp Vọng Tiên Cung cao 7m hình bát giác với 9 tầng cân đối – một trong những tháp độc đáo nhất của khu Yên Tử. Bên phải chùa Vân Tiêu là suối Hàm Long, khúc thượng lưu của suối Vàng, dòng nước trong veo, lưu lượng lớn, đều đặn, bốn mùa không thay đổi. Giang hồ có truyền tụng lại nguồn gốc cái tên Vọng Tiên Cung của ngôi tháp này như sau: Đệ tử xuất chúng nhất của Sư tổ Hiện Quang (người tu hành đầu tiên trên núi Yên Tử) là thiền sư Đạo Viên, tuy sử sách ít chép về ngài nhưng những gì còn lại trong di cảo thời Trần cũng đủ để rạng danh ngài như một bó đuốc sáng giữa rừng thiền Yên Tử. Vì ngài lập thảo am của mình trong rừng trúc nên được sư tổ Hiện Quang đặt hiệu là Trúc Lâm và mật truyền tâm ấn, trở thành tổ truyền đăng thứ hai của dòng thiền Yên Tử, lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Quốc Sư Đại sa môn. Triều Trần nhiều lần mời Quốc sư về kinh để nghị bàn quốc sự. Thuở nhỏ ngài kết bạn với thân phụ của vua Trần Thái Tông là Trần Thừa nên sau này mới có chuyện vua Thái Tông vì chuyện gia đình, đang đêm rời kinh thành, cải trang thành thường dân trốn lên núi Yên Tử tìm gặp, hỏi về Phật pháp. Ngài đã trả lời vua Thái Tông rằng: "Núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm, tâm lặng lẽ mà thấu biết, ấy là chân Phật. Chỉ cần bệ hạ giác ngộ được Tâm này, thì lập tức thành Phật, đâu phải khổ cầu ở nơi đâu nữa"… Vào một ngày đẹp trời, quốc sư Trúc Lâm làm lễ truyền đăng cho đệ tử là thiền sư Đại Đăng, rồi rẽ cây trèo núi. Tới đỉnh núi chon von tán xoè như chiếc lọng, quốc sư ngồi theo thế Liên Hoa, mặt quay về hướng tây. Khi các môn nhân theo lối tìm tới gần, thì thấy đỉnh núi quấn quít đầy mây ngũ sắc, thoáng sau tan hết, trong ấy có bóng quốc sư Trúc Lâm theo mây bay lên cung trời Đâu Suất. Nơi quốc sư hiển phật được gọi là Vân Tiêu. Tháp gọi tên là Vọng Tiên Cung, như thể từ đây hướng tới cõi thiền sư siêu thoát.


Rời chùa Vân Tiêu, dông 1 mạch xuống thẳng chân núi, lang thang ra nhà bán đồ lưu niệm chơi, trong này chủ yếu chỉ bán tranh thư pháp và rượu mơ Yên Tử, thấy trên tấm biển ghi tên sản phẩm có cả ô mai mơ Yên Tử, hỏi mua vài kg thì được nhân viên bán hàng trả lời là "hàng công ty còn chưa kịp nhập về…" :D. Chẳng có đồ gì đặc biệt, cuối cùng tôi cũng chỉ mua vài thứ đồ lưu niệm và một bức tranh thư pháp nhỏ mà tôi rất thích, có in bài thơ ngắn lạ lẫm, không biết của tác giả nào:

“Tôi ngồi trên đỉnh phù vân
Mà nghe tiếng gió hết gần lại xa
Một mai khuất nẻo ta bà
Xin em giọt nước mắt ngà hơi sương
Hôm nay tôi trốn phố phường
Ngồi đây chờ đợi nỗi buồn dừng chân
Phù vân, phù vân, phù vân
Hình như đâu đó mùa xuân đang về…”

Ra ngoài sân, bao quanh khoảng sân rộng lát toàn gạch vuông là kín đặc các quán hàng bán đồ lưu niệm. Y hệt như quân đội bày trận sẵn để bao vây du khách :D.



Tranh thủ chụp cố vài kiểu, đằng nào cũng… hết pin rồi.




Mua đồ xong xuôi, mỗi đứa chiến 1 tô bánh đa và 1 cái bánh mỳ to bự, rồi cuốc bộ ra bãi gửi xe, ca bài Going home!

[/I][/SIZE][/ALIGN]

Advertisements

15 thoughts on “Du xuân đầu năm

  1. Tại sao vua Trần Nhân Tông lại chọn Yên Tử làm nơi tu hành?!Thứ nhất, Yên Tử là “linh địa”, là nơi có vị trí đặc biệt của dòng họ nhà Trần, với vua Phật Trần Nhân Tông.Theo Đại Nam nhất thống chí, bộ quốc sử thời Nguyễn, Yên Tử là “Tổ sơn” của toàn bộ khu vực núi non vùng Hải Đông (tức toàn bộ phía Đông đồng bằng châu thổ Bắc Bộ thời Trần, trong đó có Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay) và vùng Đông Triều thuộc khu vực sườn nam dãy núi Yên Tử là nơi phát tích của nhà Trần, không phải là vùng Tức Mặc – Long Hưng – Thiên Trường. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng “nhà Trần là dân đánh cá, vốn là người Đãn, một cư dân sống dọc theo biển từ Phúc Kiến trở xuống, di cư đến Việt Nam và trở thành một thế lực vào lúc Lý mạt”. Đông Triều có thể là nơi định cư đầu tiên của nhà Trần sau cuộc di cư về Nam ấy. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Trước kia tổ tiên vua (Trần Cảnh – Trần Thái Tông) là người đất Mân”. Trong phần lăng mộ của tỉnh Hải Dương, Đại Nam nhất thống chí viết: “Lăng Tư Phúc nhà Trần ở xã Yên Sinh, huyện Đông Triều. Lăng tẩm Trần Thái Tông, Thánh Tông và Giản Định đế đều ở đây. Các đời Hồng Thuận và Hoằng Định triều Lê đều có tu bổ, lâu ngày đổ nát, nền cũ vẫn còn; năm Minh Mệnh thứ 21 sửa đắp lại và dựng bia. Xét sử chép (kỷ Trần Anh Tông) bia thần đạo ở Yên Sinh nói rằng tiên tổ nhà Trần vốn là người Yên Sinh, huyện Đông Triều, sau dời đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Trường cho nên các vua Trần đều táng ở Yên Sinh, mà khi nhường ngôi xuất gia cũng lấy Yên Sinh làm nơi tu ẩn". Đông Triều cũng là nơi phong thái ấp cho Trần Liễu, tước hiệu Yên Sinh vương, con cả của Trần Thừa, anh của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh).An Nam chí lược của phản thần Lê Tắc là một trong số những bộ sử được coi là sớm nhất ở nước ta còn lại đến ngày nay ghi chép khá rõ về Yên Tử:“Núi Yên Tử gọi là Yên Sơn hoặc Tượng Sơn, bề cao lên quá tầng mây. Đầu niên hiệu Hoàng Hựu, nhà Tống (1049-1053), triều đình lại ban tên Tử Y Đông Uyên. Đại sư là Lý Tự Thông có dâng lên vua hải nhạc danh sơn đồ và vịnh thơ tán:Phúc Địa thứ tư tại Giao Châu là Yên Tử sơn.Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ,Yểu điệu hình khe trổ một ngành.Tiên cỡi loan qua ngồi cảnh Tịnh,Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh”.Như vậy, Yên Tử là phúc địa thứ tư trong bốn vùng đất được coi là “phúc địa của Giao Châu”. “Đã có một loại quy hoạch tâm linh” nào đó ít nhất tồn tại dưới thời Lý, thời Trần về bốn ngọn núi ở Bắc Bộ. Không phải vô cớ khi chính Trần Nhân Tông lại chọn Yên Tử làm nơi tu tập của mình, bởi vì Ngài không thể không biết đó là phúc địa (đất phúc). Yên Tử là nơi ông nội của vua Trần Nhân Tông – Trần Thái Tông thời trai trẻ (năm Thiên Ứng Chính Bình, 1236) đã tìm về đây để “cầu làm Phật”. Nhờ có lời khuyên của Trúc Lâm Đạo Viên trên núi Yên Tử cùng với thái độ kiên quyết can ngăn của thúc phụ – Thái sư Trần Thủ độ và quần thần thân tín, Trần Thái Tông mới chịu quay trở lại triều đình làm vua và trở thành một bậc minh quân mang tâm Phật.Yên Tử cũng là nơi thường thăm viếng của Thượng hoàng Trần Thánh Tông – phụ thân vua Phật Nhân Tông. Những áng thơ hay của Trần Thánh Tông cũng được viết ra từ non thiêng Yên Tử. Bản thân vua Trần Nhân Tông năm 16 tuổi (1274) được vua cha lập làm Hoàng thái tử nhưng ông từ chối, muốn nhường lại cho em mình là Đức Việp mà không được. Sau đó có lần Hoàng thái tử đã bỏ nhà lên núi Yên Tử định đi tu. Sự kiện này đã được ghi trong Thánh đăng ngữ lục.Cho nên, “vùng Đông Triều – Yên Tử có một vị trí đặc biệt với dòng họ nhà Trần. Có thể gọi vùng này là linh địa của thời Trần, nên các vị vua triều Trần có chuyện thì về đấy mà khi chết thì cũng về đấy. Người ta thường muốn chết ở nơi quê hương mình". Mười năm cuối đời dành cho việc xuất gia tu hành, vua Trần Nhân Tông trở về nơi phát tích Yên Tử cũng không ngoài lệ chung gia tộc ấy.Thứ hai, vua Trần Nhân Tông về Yên Tử bởi nơi này trước đó đã được coi là nơi tu hành đạt đạo của nhiều bậc tiền nhân.Trước khi vua Trần về tu hành ở đây, Yên Tử đã từng lưu danh Yên Kỳ Sinh tu tiên đắc đạo. Tuy không có bằng chứng sử liệu nhưng với một pho tượng bằng đá (không biết do thiên tạo hay nhân tạo) tương truyền là tượng Yên Kỳ Sinh gần đỉnh núi Yên Tử cũng cho thấy đây là một địa chỉ đạo giáo lâu đời và cũng là nơi con người tu luyện đạt đạo Tiên. Cuối đời Lý, Yên Tử có tổ sư Hiện Quang, đầu thời Trần có quốc sư Đạo Viên, quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Dao, Thiền sư Huệ Tuệ là thầy độ của đức Điều ngự Giác hoàng, cũng đã tu hành và đắc pháp, khơi nguồn mạch cho dòng thiền Yên Tử. Đại Nam nhất thống chí viết: “Núi Yên Tử ở cách huyện Đông Triều 35 dặm về phía đông bắc, có tên nữa là Tượng sơn… Năm Tự Đức thứ 3 liệt vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ. Xét: núi này các vua triều Trần cho là đất danh thắng nên dùng làm chỗ tham thiền…”. Cho nên, việc Điều ngự Giác hoàng không tìm về nơi khác mà lại chọn Yên Tử làm nơi tu hành không phải là vô căn.Thứ ba, Yên Tử có đủ những điều kiện để giúp cho những bậc tu hành đắc đạo, không kém gì xứ sở Phật-đà-già-la (NairanJana) của đức Phật Thích-ca.Đức Phật Tổ Thích-ca-mâu-ni đắc đạo thành Phật là nhờ vào phép tu thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Vua Trần cũng tu thiền, lấy pháp tu thiền để đạt đạo. Người tu theo pháp môn thiền định rất cần tới một nơi yên tĩnh, thanh tịnh để ngồi thiền. Núi rừng Yên Tử cách biệt với phàm trần là một nơi lý tưởng để tu thiền. Không bàn tới yếu tố tĩnh mịch, linh thiêng hay yếu tố phong thủy của núi này mà xét tới tính khoa học của vấn đề, các nhà nghiên cứu cho rằng: những quả núi lâu đời như Yên Tử, Hy Mã Lạp Sơn (Tây Tạng) Phú Sỹ (Nhật Bản)… đều có lực từ trường khá lớn. Những luồng điện này sẽ làm tăng thêm lực cho dòng lưu nhân điện trong thân thể những người ngồi thiền nơi núi đó. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã từng nhập định và thành đạo dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, cạnh núi Tượng Đầu. Sau khi đắc đạo, Ngài vẫn thường cùng với các đệ tử ngồi thiền định trên non Linh Thứu. Người ngồi thiền mặt quay về hướng nam, lưng xây về hướng bắc là tốt nhất. khi ngồi, tư thế lưng phải thật thẳng đứng để cho cho luồng hỏa hầu của cơ thể lưu chuyển dễ dàng trong cột sống. Muốn vậy, người ta phải kê gối ngồi thiền (bồ đoàn) hay tận dụng mặt bằng có độ dốc hơn nghiêng về phía trước. Vị trí ngồi thiền phải ở nơi thanh tịnh, thoáng khí trong lành, môi trường ô nhiễm sẽ làm cho khí prana trong cơ thể (được tạo ra trong khi tọa thiền) sẽ không được tinh khiết, bất lợi cho việc tạo luồng hỏa hầu trong cơ thể. Vạt núi sườn nam của Yên Tử hợp cách rất tự nhiên giúp cho người tu thiền có được các điều kiện ngoại cảnh đó. Núi rừng Yên Tử đã từng được coi là núi Linh Thứu bên Tây Trúc qua áng thơ của đệ tam tổ Huyền Quang:Tây Trúc đường vàoNam Châu có mấy.Non Linh Thứu ai đem về đây,Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đáy.Vào chung cõi thánh thênh thênh,Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.15 năm ở ngôi Thái thượng hoàng, cũng là thời gian vua Nhân Tông tu hành và hiển Phật. “Thế Tôn bỏ ngai vàng quý báu, nửa đêm vượt thành, bỏ áo rồng cao sang, non xanh cắt tóc, mặc chim thước làm tổ trên đỉnh đầu, mặc con nhện giăng tơ trên vai cánh, tu phép tịch diệt để tỏ đại chân như, dứt cõi trần duyên mà thành bậc Chánh giác. Đức Tổ ta là Điều ngự Nhân Tông hoàng đế ra khỏi cõi trần, thoát vòng tục lụy, bỏ chốn cung vua ra giữ sơn môn”.Làm vua chỉ chăn dân trăm họ. Làm Phật cứu độ cả chúng sinh. Như thế, Phật hoàng Trần Nhân Tông về Yên Tử đâu chỉ “dựng lên ngôi chùa thường thường dạo chơi để xem động tĩnh cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm như lời nhận định của Hải Lượng thiền sư? Người tu thiền thành chính quả có thể đạt được những quyền năng siêu việt mà người thường không dễ gì có được. Nhờ phép tu thiền định, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni có phép tha tâm thông (thấy được lòng người khác) nên từ xa đã đọc được tư tưởng của đại đệ tử Tu-bu-đề. Tôn giả A-na-luật tuy bị mù lòa vẫn có khả năng thiên nhãn thông (nhìn xa ngàn dặm). Tôn giả Xá-lợi-phật mắt có thể nhìn thấy 60 tiểu kiếp người về trước… Phật hoàng Trần Nhân Tông tu thiền và Ngài cũng có thể đạt được những quyền năng siêu việt đó. Các nhà sư tu thiền khẳng định rằng: tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử, đức Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên, dưới. Mọi sự với Ngài đều thông tỏ. Trên đỉnh Yên Sơn cách biệt với kinh kỳ, vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. Ngài còn biết rõ được biên cương phương Bắc, phương Tây và phương Nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững nền an ninh chính trị nước nhà. Trên non Yên Tử, Ngài hoàn thiện hệ thống tư tưởng thiền phái Trúc Lâm, trở thành nền tảng tư tưởng và đạo đức của một thời đại hoàng kim triều Trần, giai đoạn Phật giáo được coi là quốc đạo.Vua Trần đi tu không phải là để trốn đời, yếm thế, mà đi tu để nhập thế cứu đời. Có điều, nhà vua cứu đời không phải theo kiểu của một ông vua, mà là theo kiểu của thánh nhân. Làm vua chỉ chăn dân trăm họ. Làm Phật cứu độ cả muôn loài. Bởi vậy, tấm gương vua Phật tuy ẩn mà lại hiện, tuy mờ mà lại sáng. Ngài bứt khỏi cái bình thường để vượt lên thành cái phi thường. Bởi thế, hàng ngàn năm qua, bao triều đại thịnh suy trị vì đất nước này, bao người đã làm vua, song có ai được nhân gian ngưỡng vọng, tôn thờ như vua Phật Trần Nhân Tông?Cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông là một biểu hiện cao đẹp, tiêu biểu nhất tinh thần nhập thế “đạo pháp gắn liền với dân tộc”. Từ chức vị cao sang của nhà vua, vua Trần trở về ngôi tôn quý nhà Phật. Nhà vua đã từ cái nhất thời hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng.Hằng năm, mỗi độ xuân về, hàng triệu lượt cháu con của Rồng Tiên đất Việt và bạn bè bốn phương lại về Yên Sơn lễ Phật và vãng cảnh. Họ bồi hồi tưởng niệm Đức Vua Trần, một ông vua đã khước từ tước vị cao sang, giã biệt chốn phồn hoa đô hội lên non xanh Yên Tử tu hành để trở thành một Đức Phật Đại Hùng, Đại Lực, Đại Trí và Đại Bi, xứng danh là Đức Phật Thích-ca-mâu-ni của Việt Nam.

  2. "… không để lại gì ngoài những dấu chân…" – câu này hay. Tớ thì để lại cả một đống vỏ lon nước ngọt, không biết có sao không, hehe!

  3. Môt cuộc du xuân thú vị. Bài viết rất hay với những bức ảnh minh hoạ sinh động, giúp người đọc có cảm nhận rõ ràng hơn. Chúc cháu có nhiều bài viết như thế.

  4. Cháu cảm ơn chú! Kỳ nghỉ tết dài ngày nên cháu cũng đi chơi khá nhiều nơi. Tết ở Quảng Ngãi chú có vui không ạ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s