Sự thật về vị vua Lê Long Đĩnh


Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Lê Long Đĩnh được coi là hoàng đế tàn bạo, hoang dâm nhất; nhắc đến ông người ta nghĩ ngay đến hình ảnh một hôn quân, bạo chúa. Thế nhưng lịch sử dường như quá thiên lệch khi chỉ nói nhiều đến tội lỗi và những hành vi càn rỡ, hiếu sát mà ít nhắc đến công tích của ông. Ngoài ra cái chết của hoàng đế Lê Long Đĩnh dẫn đến sự kết thúc của vương triều Tiền Lê còn bao phủ bởi những nghi vấn chưa được giải đáp thoả đáng.

Lê Long Đĩnh (986 – 1009) là con trai thứ 5 của vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn), mẹ là Chi hậu Diệu Nữ. Năm Nhâm Thìn (992) Lê Long Đĩnh được vua cha phong làm Khai Minh Vương cử đi trấn giữ châu Đằng (nay là huyện Kim Động, Hưng Yên). Năm Ất Tị (1005) vua Lê Đại Hành mất để lại di chiếu nhường ngôi cho con trai thứ 3 là Lê Long Việt nhưng Lê Long Việt chưa kịp đăng quang thì người anh thứ 2 là Đông Thành Vương Lê Long Tích và người em thứ 6 là Trung Quốc Vương Lê Long Kính đem quân tranh ngôi, các bên đánh nhau đến 8 tháng mới phân thắng bại. Trung Quốc Vương thua chạy, trốn về trại Phù Lan (nay thuộc Mỹ Hào, Hưng Yên) còn Đông Thành Vương chạy vào đất Cử Long (nay thuộc Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá), đến cửa biển Kỳ La (nay thuộc Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) thì bị giết. Trong cuộc nổi loạn này Lê Long Đĩnh cũng tham gia nhưng Lê Long Việt “lấy tình cùng mẹ không nỡ giết, nên tha cho” (Đại Việt sử ký toàn thư). Sau khi bình ổn được nội loạn, Lê Long Việt chính thức lên ngôi, làm vua mới được 3 ngày thì bị “Long Đĩnh sai hung thủ ban đêm trèo tường vào trong cung giết chết” (Đại Việt sử ký toàn thư). Lê Long Đĩnh giết anh cướp ngôi, bầy tôi đều chạy trốn, chỉ có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác vua mà khóc, Long Đĩnh khen là trung nghĩa nên phong cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, ông còn đặt thụy hiệu cho người anh xấu số của mình là Trung Tông hoàng đế.

Theo như những ghi chép của sách sử, mùa đông năm Ất Tị (1005) Lê Long Đĩnh lên ngôi, bắt đầu những năm tháng làm vua với nhiều điều bạo ngược. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua tính thích giết người, phàm người bị hành hình hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt để cho lửa cháy chết, hoặc sai tên kép hát người Tống là Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng mảnh để cho không được chết chóng… Đi đánh dẹp bắt được thù thì giải đến bờ sông, khi nước triều rút, sai người làm lao dưới nước, dồn cả vào trong ấy, đến khi nước triều lên thì ngập nước mà chết; hoặc bắt trèo lên ngọn cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết…Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay vua cầm dao chọc tiết trước rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Từng róc mía ở trên đầu sư Quách Ngang, giả lỡ tay lưỡi dao trượt xuống đầu nhà sư cho chảy máu, rồi cả cười. Hoặc nhân yến tiệc giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ lên cho xem, các vương đều sợ, vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu, tất sai bọn khôi hài hầu hai bên, vua có nói câu gì thì người nọ người kia nhao nhao pha trò để cười, để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy con thạch sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn”.

Theo như trên thì Lê Long Đĩnh chỉ ham sắc dục, giết chóc, những công việc triều chính đều bỏ bê, không quan tâm đến. Sự thực có đúng như vậy không?

Công trạng đáng ghi nhận

Các sách sử, nhất là những tác phẩm được viết trong thời gian gần đây đều tập chung chỉ trích, phê phán những tội lỗi của vua Lê Long Đĩnh mà cố tình bỏ qua, không nhắc đến những việc làm có ích lợi cho dân cho nước, những công trạng dù không nhiều nhưng ông đã làm được trong thời gian ở trên ngôi báu.

– Về đối ngoại, Lê Long Đĩnh vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với nhà Tống như thời trị vì của các đời vua trước. Mối quan hệ này được xây dựng sau khi quân Tống bị đại bại năm Tân Tị (981) do đó với nước ta nhà Tống tỏ thái độ mềm dẻo, không dám làm căng, sợ rằng sinh chuyện binh đao. Chính vì thế có thể nói việc đối ngoại thời Lê Long Đĩnh đã đạt được một số thuận lợi đáng kể, thậm chí nhà Tống còn e dè chỉ sợ làm mất lòng ông. Tháng 8 năm Đinh Mùi (1007) vua Tống phong cho Lê Long Đĩnh làm Giao Chỉ quận vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ. Năm Kỷ Dậu (1009) vua sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu, “vua Tống cho là con tê ngưu ấy từ xa đến, không hợp thuỷ thổ, muốn trả lại nhưng sợ trái ý vua, sai đợi cho sứ nước ta về rồi đem thả ra bãi biển. Vua lại xin áo giáp, mũ trụ trang sức bằng vàng. Vua Tống bằng lòng cho. Vua lại xin cho thông thương với Ung Châu, nhưng vua Tống chỉ cho thông thương với Liêm Châu và trấn Như Hồng thôi" (Đại Việt sử ký toàn thư).

– Về đối nội, dưới triều Lê Long Đĩnh bộ máy nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện mô phỏng theo quan chế của nhà Tống. Vua vừa là người giải quyết mọi công việc chính trị, vừa là quan tòa tối cao, vừa là thủ lĩnh quân sự. Năm Bính Ngọ (1006) Lê Long Đĩnh “đổi lại quan chế và triều phục cho các quan văn võ và tăng đạo theo đúng như nhà Tống” (Đại Việt sử ký toàn thư). Như vậy việc học tập xây dựng thiết chế chính quyền phong kiến theo triều đại phương Bắc không phải bắt đầu từ thời Lý mà đã được đặt nền móng vào cuối thời Tiền Lê và Lê Long Đĩnh chính là người đầu tiên áp dụng. Một vấn đề quan trọng nữa mà triều Tiền Lê tiến hành là tập trung quyền lực trên một lãnh thổ nhất định, dẹp yên các thế lực chống đối, các lực lượng cát cứ để quy tụ tính thống nhất quốc gia. Những cuộc đánh dẹp, chinh phạt phản loạn được các vua Tiền Lê thực hiện nhiều lần. Riêng thời Lê Long Đĩnh cầm quyền, ông đã 6 lần trực tiếp dẫn quân chinh chiến.

+ Lần thứ nhất, đó là vào cuối năm Ất Tị (1005) ngay sau khi lên ngôi, Lê Long Đĩnh đi dẹp bạo loạn giữa các anh em, giết chết Trung Quốc Vương (Lê Long Kính), bức hàng Ngự Bắc Vương (Lê Long Cân) và Ngự Man Vương (Lê Long Đinh). “Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả” (Đại Việt sử ký toàn thư).

+ Lần thứ hai, khi vừa dẹp xong cuộc nổi loạn của các anh em thì vua nghe tin giặc Cử Long tiến công đánh chiếm đến cửa biển Thần Đầu (Ninh Bình) bèn dẫn quân đi đánh.

+ Lần thứ ba: Vào năm Mậu Thân (1008) Lê Long Đĩnh đi đánh châu Đô Lương (nay thuộc Hàm Yên, Tuyên Quang) và châu Vị Long (nay thuộc Chiêm Hoá, Tuyên Quang).

+ Lần thứ 4: Cũng trong năm Mậu Thân (1008) vua lại dẫn quân đi đánh Án Động (nay không rõ ở đâu).

+ Lần thứ 5: Vào cuối năm Mậu Thân (1008) đi đánh Hoan Châu (Nghệ An ngày nay) và châu Thiên Liễu (nay không rõ ở đâu).

+ Lần thứ 6: Khi ấy là mùa thu tháng 7 năm Kỷ Dậu (1009) Lê Long Đĩnh đem quân đánh các châu Hoan Đường và Thạch Hà (nay thuộc Hà Tĩnh).

Công việc bình định của triều Tiền Lê qua các hoạt động quân sự, về cơ bản đã xác lập được quyền lực chính trị của triều đình phong kiến trung ương, kiểm soát được một phần lãnh thổ rộng lớn. Đặt nền móng ban đầu cho các triều đại sau tiếp tục hoàn thành xây dựng một chế độ phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh.

Để tạo thuận lợi cho việc vận chuyển đi lại, vừa phục vụ mục đích quân sự, vừa giúp lưu thông buôn bán được thuận lợi, Lê Long Đĩnh tiếp tục cho mở đường, đào kênh như dưới thời vua cha. Đầu năm Kỷ Dậu (1009) vua theo lời tâu của đô đốc Kiển Hành Hiến đã xuống chiếu cho quân dân Ái Châu (Thanh Hoá) đào kênh, đắp đường và lập ụ bia để ghi số dặm đường từ cửa quan Chi Long (nay thuộc Nga Sơn, Thanh Hóa) đến sông Vũ Lung. Tại đây Lê Long Đĩnh còn cho đóng thuyền, đặt đò ở Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung để chở người qua lại.

Tháng 7 cùng năm vua lại sai Phòng át sứ Hồ Thù Ích đem 5.000 quân của châu Hoan Đường (Nghệ An) sửa chữa đường từ châu ấy đến cửa biển Nam Giới để đi lại cho thuận tiện.

Lĩnh vực văn hoá tư tưởng cũng được Lê Long Đĩnh quan tâm đến, năm Đinh Mùi (1007) vua “sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký Hoàng Thành Nhã đem con tê trắng sang biếu nhà Tống, dâng biểu xin cửu kinh và kinh Đại Tạng. (Khâm định Việt sử thông giám cương mục). Trong đó Đại Tạng là bộ kinh lớn của Phật giáo, còn cửu kinh là chín bộ sách kinh điển của Nho giáo Trung Quốc bao gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Hiếu kinh, Luận ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ.

Các hoạt động văn hóa dân gian thời kỳ này cũng rất phát triển, triều đình phong chức Ưu bà cho một số nghệ nhân để dạy cung nữ, binh lính múa hát. Trong lễ hội, những cuộc thi đấu vật, đua thuyền… diễn ra sôi động, thậm chí có những cuộc thi được coi là nghi thức quốc gia. Những chính sách văn hoá tiến bộ thời Tiền Lê đã làm nảy nở những nét văn hoá đặc sắc mang tính dân tộc đậm nét, khơi thông mạch nguồn văn hóa để phát triển rực rỡ hơn trong những giai đoạn sau này.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Lê Long Đĩnh đã thực hiện được một số công trạng đáng ghi nhận trong thời gian làm vua, chứ không phải chỉ toàn bỏ bê chính sự, suốt ngày lao vào ăn chơi hưởng lạc và làm những việc tàn bạo.

Cái chết của vua Lê Long Đĩnh

Theo sách sử, mùa đông, ngày Tân Hợi tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009) Lê Long Đĩnh mất. Triều đình thấy con vua còn nhỏ không thể đảm đương được việc nước nên cùng nhau tôn quan Thân vệ điện tiền đô chỉ huy là Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra nhà Lý.

Tuy nhiên cái chết của vua Lê Long Đĩnh và sự kết thúc của triều Tiền Lê có khá nhiều nghi vấn, dường như ẩn dấu sau đó là một cuộc đảo chính cung đình được thực hiện rất hoàn hảo.

+ Trước tiên về căn bệnh của Lê Long Đĩnh, nhiều sách sử đã chép “vua say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ” (Đại Việt sử ký toàn thư). Theo Đông y đó là do khí hư bị hãm không lưu thông được nên thành bệnh; còn y học hiện nay vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác dẫn đến bệnh trĩ nhưng dâm dục quá độ không thể là nguyên nhân phát sinh bệnh này được. Nếu cứ coi Lê Long Đĩnh thực sự bị bệnh trĩ thì ta thấy bệnh của ông rất nặng không thể đi đứng, di chuyển mà phải nằm một chỗ. Từ việc nằm để coi chầu nên thành biệt danh là Ngọa triều (nằm thiết triều). Thế nhưng chi tiết này lại mâu thuẫn với các cuộc chinh phạt của ông, trong 4 năm làm vua Lê Long Đĩnh đã 6 lần dẫn quân đi đánh dẹp và trận chiến cuối cùng của ông diễn ra tháng 7 năm Kỷ Dậu (1009) trước khi ông mất 3 tháng. Vì thế khó mà lý giải được một ông vua phải nằm thiết triều, khổ sở vì căn bệnh trĩ mà lại có thể cưỡi ngựa cầm gươm, đánh đông dẹp bắc được.

+ Về cái chết của Lê Long Đĩnh, phần lớn các sách sử chỉ ghi vua mất ở trong cung nhưng không cho biết nguyên nhân. Duy nhất cuốn Đại Việt sử ký tiền biên có những dòng rất đáng chú ý như sau: “Lý Thái Tổ rất căm phẫn trước tội ác giết anh cướp ngôi của Khai Minh Vương, nhân lúc Khai Minh Vương bệnh tật, sai người vào đầu độc giết đi rồi dấu kín việc đó nên sử không được chép”.

Nếu thông tin này đúng sự thật thì Lê Long Đĩnh không phải ốm chết mà bị Lý Công Uẩn sai người đầu độc chết có thể để trả thù cho chủ cũ (thời Lê Trung Tông, Lý Công Uẩn giữ chức Điện tiền quân, lo việc bảo vệ vua và canh giữ hoàng cung), nhưng cũng có thể coi đây là hành vi giết vua cướp ngôi; điều này ít nhiều có căn cứ. Như chúng ta đã biết, Lý Công Uẩn vốn chịu ảnh hưởng của Phật giáo, khi ấy tầng lớp tăng quan có thế lực rất lớn, được tham dự triều chính với các chức đại sư, tăng lục, sùng chân uy nghi… Thiền sư Vạn Hạnh chính là người dọn đường dư luận cho việc lên ngôi của Lý Công Uẩn qua việc lý giải các câu sấm nói về việc “vua thì non yểu, tôi thì cường thịnh; họ Lê mất thì họ Lý nổi lên”. Ông còn trực tiếp khuyên Lý Công Uẩn lợi dụng binh quyền nắm trong tay để trở thành “người đứng đầu muôn dân”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết thái độ của Lý Công Uẩn như sau: “Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh em đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn. Song từ đấy cũng lấy thế tự phụ, mới nảy lòng ngấp nghé ngôi vua”. Sau khi Lê Long Đĩnh mất, quan chi hậu Đào Cam Mộc, một người đại diện cho lực lượng quân đội cũng khuyên Lý Công Uẩn giành lấy vương vị từ tay họ Lê. “Công Uẩn nghe thấy Cam Mộc nói thế trong bụng thích nhưng còn ngờ Cam Mộc có mưu kế gì khác, mới giả cách mắng rằng: Sao ông lại nói như thế, tôi phải bắt ông nộp quan. Cam Mộc ung dung bảo Công Uẩn: Tôi thấy thì việc trời việc người như thế, cho nên tôi nói ra câu ấy, nay ông lại muốn cáo giác tôi, thì tôi không phải là người sợ chết” (Đại Việt sử ký toàn thư). Tuy vờ dọa như vậy nhưng sau đó Lý Công Uẩn đã bộc lộ ý định của mình khi hỏi Đào Cam Mộc: “Tôi đã hiểu rõ ý ông cùng với Vạn Hạnh không khác gì. Nếu thực như lời ấy thì nên tính kế thế nào?” (Đại Việt sử ký toàn thư). Như thế rõ ràng là Lý Công Uẩn muốn đoạt ngôi vua của họ Lê và ông đã được hai thế lực có ảnh hưởng lớn khi ấy là đội ngũ tăng quan, cùng lực lượng quân đội ủng hộ.

+ Với một người lên ngôi bằng bạo lực như Lê Long Đĩnh thì ông sẵn sàng mạnh tay với bất kỳ âm mưu và hành động nào đe dọa đến địa vị của mình. Hiện nay ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh) vẫn lưu truyền một giai thoại có liên quan đến Lý Công Uẩn thoát khỏi sự truy sát của triều Tiền Lê. Chuyện kể rằng khi ấy trong dân gian đồn đại nhiều lời sấm cho rằng nhà Lê sắp mất, họ Lý sẽ thay, lại có câu đồng dao rằng: Ta trong hạt mận sinh ra. Vua Lê Long Đĩnh một đêm nằm mơ thấy thần cho biết: Ở Cổ Pháp có người họ Lý là bậc quý nhân, sau này sẽ cướp ngôi. Rất lo lắng Lê Long Đĩnh cho quân về Cổ Pháp (nay là Từ Sơn, Bắc Ninh) tìm bắt họ Lý. Biết chuyện Lý Công Uẩn bỏ trốn, được vợ chồng ông lão cày ruộng thương tình đưa về nhà, họ đào một cái hang dưới gốc cây mận rồi cho trốn dưới đó, trên miệng hầm để mấy vại nước. Khi quân lính lùng sục vào nhà hỏi, ông lão chỉ vào cây mận mà nói: “Lý đây! Còn Lý nào nữa thì ra sông mà tìm. (Lý = mận)”.

Tìm mãi không được, quan quân về kinh báo cho vua, Lê Long Đĩnh liền xem một quẻ bói, thày bói nói: “Người này đang ở dưới nước.” Tin là người cần bắt đã chết đuối, Lê Long Đĩnh hạ lệnh thôi không truy lùng nữa. Lý Công Uẩn vì thế mà thoát nạn.

Trên đây là giai thoại dân gian, còn sử sách thì ghi chép khác với vài dòng ngắn như sau: “Ngọa Triều từng ăn quả khế thấy hột mận, mới tin lời sấm ngữ bèn ngầm tìm người họ Lý giết đi, mà Công Uẩn hầu ở bên cạnh, vẫn không biết” (Đại Việt sử ký toàn thư). Điều ngạc nhiên là, nếu coi Lê Long Đĩnh tàn bạo hiếu sát không từ tội ác nào, giết cả anh em ruột nhưng sao lại dễ dàng quên đi một người họ Lý ở ngay bên mình trong khi ông tin vào những lời sấm kia, mà Lý Công Uẩn khi đó đang nắm binh quyền với chức Điện tiền chỉ huy sứ, người có khả năng đe dọa trực tiếp đến ngôi báu. Thật khó hiểu khi người đáng nghi ngờ nhất lại không bị nghi ngờ!

+ Một điều đáng chú ý nữa là vì sao Lý Công Uẩn lên ngôi lại thuận lợi, dễ dàng đến vậy? Sử sách không hề nói đến bất kỳ một phản ứng hay hành động chống đối nào của các quan tướng trung thành với triều Tiền Lê và nhất là của hoàng tộc họ Lê. Vua Lê Đại Hành có tất cả 12 người con trai (trong đó có một người con nuôi) những người này đều đã trưởng thành và được vua phong tước vương cử đi trấn trị những vùng trọng yếu của đất nước. Người con cả là Kinh Thiên Vương Lê Long Thâu mất năm Canh Tý (1000), đến năm Ất Tị (1005) sau khi Lê Đại Hành mất thì các con ông tranh giành ngôi báu, chém giết lẫn nhau. Đông Thành Vương Lê Long Tích người con thứ 2 bị dân ở châu Thạch Hà (thuộc Hà Tĩnh ngày nay) giết, người con thứ 3 là Nam Phong Vương Lê Long Việt làm vua được 3 ngày thì bị Khai Minh Vương Lê Long Đĩnh cho người ám sát chết để cướp ngôi. Khi lên làm vua, Lê Long Đĩnh đánh bại các anh em khác, giết một người em của mình là Trung Quốc Vương Lê Long Kính. Như vậy các con của Lê Đại Hành còn lại 8 người, trong đó Lê Long Đĩnh là người giành được ngôi vua. Thế mà khi Lê Long Đĩnh mất, triều thần đưa Lý Công Uẩn lên ngôi thì không thấy những người này có phản ứng gì; không thể tin được rằng trước đó anh em họ tranh giành lẫn nhau mà nay lại im lặng khi người ngoại tộc đoạt mất vương vị. Phải chăng tất cả đã bị giết hết một cách bí mật và sử sách đã cố tình quên đi việc này?

– Và điều lạ lùng khó giải thích nữa là nếu Lê Long Đĩnh, một hôn quân bạo chúa, tàn ác nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, bị sử sách và người đời phê phán, nguyền rủa nhưng vì sao ông lại được thờ phụng? Tại chính điện thờ ở đền vua Lê (Hoa Lư, Ninh Bình), phía bên tay phải tượng vua Lê Đại Hành là một bức tượng nhỏ, đó chính là tượng Lê Long Đĩnh. Chúng ta đều biết nhân dân là vị quan toà công minh nhất, phán xét đúng đắn nhất, vì thế những anh hùng dân tộc, những người có công lao với dân với nước đều được lập đền thờ tưởng nhớ, hương khói đời đời. Do vậy nhân dân không thể nhầm lẫn đến mức hồ đồ khi lại thờ phụng một ông vua tàn ác như Lê Long Đĩnh, thế nên câu hỏi đặt ra ở đây là phải chăng những gì sử sách chép về ông không đúng với con người thực của Lê Long Đĩnh. Những tiếng xấu về ông là do có người ngụy tạo, đổ lỗi dẫn đến Lê Long Đĩnh mang tiếng oan, một nỗi oan lịch sử?

Lịch sử đòi hỏi sự chính xác, khách quan vì vậy nên chăng chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá khác hơn về Lê Long Đĩnh. Những tội lỗi của ông không thể che giấu, xóa bỏ nhưng công trạng cũng phải được ghi nhận, không nên đánh giá một chiều mà cần thấy rõ cái tốt cái xấu, cái sai cái đúng. Công tội ngàn năm qua của vua Lê Long Đĩnh, cái chết đáng ngờ của ông và sự mất ngôi của họ Lê cần được lịch sử xem xét lại một cách công bằng nhất.

Advertisements

3 thoughts on “Sự thật về vị vua Lê Long Đĩnh

  1. @labatluong: tớ thích đọc những entry như thế này….Cậu post nhiều nhiều nhé…..cho tớ ké với….:)

  2. Entry của bác rất hay. Đánh giá một nhân vật lịch sự phải thận trọng, không thể thiển cận vội vàng nhận định qua một hai trang sách được.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s