Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực



Nguyễn Trực (1417 – 1473) là vị Trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Khi đi sứ Trung Quốc, ông được các sĩ phu ở đây nể phục, xưng tặng là "Lưỡng quốc Trạng nguyên".

Sử sách chép rằng: Nguyễn Trực sinh ra trong thời loạn lạc, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Cha của Nguyễn Trực là Nguyễn Thời Trung phải lánh nạn về phía Tây ở Tiểu Động Mộng (thôn Cây Thượng, xã Nghĩa Hưng, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây). Tại đây, Nguyễn Thời Trung gặp và kết duyên với một phụ nữ tên là Đỗ Thị Chứng… Ngày 16-5 năm 1417, sinh ra Nguyễn Trực ở Am Long Khôi – núi Phật Tích thuộc địa phận xã Sài Sơn (Hà Tây)…

Sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi có học vấn, đỗ đạt cao. Ông nội là tiến sĩ Nguyễn Bính (dưới triều vua Trần Hiến Tông) làm huấn đạo giáo quan Quốc Tử Giám. Bố đẻ là tiến sĩ Nguyễn Thời Trung làm quan giáo thục Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông. Nguyễn Trực thuở nhỏ đã nổi tiếng là người nhất mực thông minh, lên 8 tuổi đi học, 12 tuổi có khả năng làm thơ văn. Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực thi Hương và đỗ đầu (giải nguyên).

Đến năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), Nguyễn Trực 25 tuổi, dự kỳ thi Đình và đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ Đệ nhất danh (trạng nguyên). Thấy ông còn ít tuổi mà đã đăng quang, vua Lê Thái Tông ban cho ông yến tiệc của vườn Quỳnh, cưỡi bạch mã đi dạo quanh kinh đô Tràng An, rồi ban sắc “Quốc Tử Giám thi thư” và ban thưởng Á Liệt Khanh, đứng đầu trong số 33 vị tiến sĩ cùng khóa…

Năm Giáp Tý (1444), triều vua Nhân Tông, Nguyễn Trực được vua ban chức “Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ Vu kỵ úy”. Năm Ất Sửu (1445), ông được phong làm “Thiếu trung khanh Đại phu ngự sứ Đài ngự sử thị Đô úy”. Ông từ chối, vua Lê Nhân Tông phải ra sắc dụ tới 3 lần ông mới chịu nhận.

Tháng 8 năm Đinh Sửu (1457), có sứ nhà Minh là Hoàng Gián đến, vua Lê Nhân Tông tuyên triệu ông vào tiền điện. Nhờ tài thơ văn ứng phó tuyệt vời của ông đã khiến sứ giả nhà Minh vô cùng cảm phục. Sau tập thơ “Lưu biệt” gồm 50 vận làm vẻ vang đất nước, ông được vua cử đi sứ sang Trung Quốc. Đến Trung Quốc, gặp kỳ thi Đình, ông cùng phó sứ Trịnh Khiết Tường muốn cho nhà Minh biết được tài học vấn của người Đại Việt, nên đã đăng ký tham dự và đỗ đầu kỳ thi đó. Ông được vua nhà Minh phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, Phó sứ Trịnh Khiết Tường được đỗ bảng nhãn… Trở về nước, cả 2 ông đều được vua phong chức Thượng thư và ban thưởng 8 chữ vàng: “Thành công danh Bắc Nam triều biên ngã” (công danh cả hai nước đều hoàn thành).

Nguyễn Trực là người duy nhất thi Đình đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ, đệ nhất danh (trạng nguyên), đứng đầu trong số 33 vị tiến sĩ cùng khóa – Người mà lần đầu tiên trong lịch sử đất Việt vua Lê ban mũ áo trạng nguyên và là người đầu tiên mở ra danh vị khôi nguyên của nước Việt. Nhắc đến tên tuổi của ông, là người ta hình dung tới một nơi kết tụ sự hiểu biết của các triều vua điển văn học thuật ở chốn Hàn lâm. Ông là người rất mực khiêm nhường, chan hòa, cung kính và ngay thẳng.

Ngày nay sử sách còn ghi lại: Vào năm Nhâm Tuất (1442) dưới triều vua Lê Thái Tổ, khi ông tham dự kỳ thi Đình, trong đề thi có 7 câu hỏi xoay quanh vấn đề “Luận về phép trị nước của các vương triều”, Nguyễn Trực đã khẳng khái trả lời: “Vua sáng, tôi hiền thì nước sẽ thịnh, vua không sáng, tôi không hiền thì nước sẽ suy vong”. Lịch sử nước ta dù trải qua nhiều bước thăng trầm, song tên tuổi của Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói ngời trong lịch sử dân tộc.

Advertisements

2 thoughts on “Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s