Phố Trần Nhân Tông



Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258, lên ngôi năm 1278, mất năm 1308, thường được sử nhắc tới vì quân Nguyên xâm lược nước ta ba lần thì hai lần là trong thời kỳ Trần Nhân Tông làm vua (có sự cố vấn của cha là Thái thượng hoàng Thánh Tông).

Năm 1284, được tin quân giặc tập trung ở Hồ Nam (Trung Quốc) tới 50 vạn tên, Nhân Tông liền trao cho Trần Quốc Tuấn chức Quốc công tiết chế, tức là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang để lo chống giặc. Đó là một việc làm sáng suốt, vì đã phán đoán đúng âm mưu địch, và còn vì đã dám dùng Quốc Tuấn ở cương vị này (nguyên là giữa dòng nhà vua và dòng Trần Quốc Tuấn vẫn còn hiềm khích).

Sau chiến thắng, ở ngôi thêm 5 năm, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con (là Anh Tông) làm Thái thượng hoàng. Có lần ông tự thân sang thăm vương quốc Chiêm Thành để thắt chặt tình hữu nghị. Sau đó ông đi tu trên núi Yên Tử. Nhân Tông đã lập ra một môn phái Phật giáo mới là môn phái Trúc Lâm. Phái Trúc Lâm muốn đáp ứng hai yêu cầu chính trị của xã hội thời đó: thống nhất dân tộc trên bình diện ý thức hệ và hạn chế sự phát triển của mâu thuẫn giai cấp để duy trì một xã hội vừa mới hòa hợp đoàn kết đánh bại kẻ thù xâm lược.

Phố Trần Nhân Tông dài 1040 mét, đi từ phố Huế đến đường Lê Duẩn. Đây nguyên là phần đất các thôn kể từ Đông sang Tây là Giáo Phường. Thiền Quang, Quang Hoa, Pháp Hoa, Liên Thủy, đều thuộc tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương. Tới giữa thế kỷ XIX, ba thôn trên hợp nhất lại gọi là Thiền Quang. Đối với lịch sử cách mạng, phố Trần Nhân Tông có một ngôi nhà lưu niệm ở bên dãy số lẻ. Đó là số nhà 47, vốn là trạm liên lạc bí mật của Kỳ bộ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội trong những năm 1926-1929, vốn là nhà của cụ Trần Quang Huyến.

Thời Pháp thuộc, đây là phố Công sứ Mi-ri-ben (rue Résident Miribel). Sau Cách mạng đã đổi ra tên hiện nay. ở giữa phố hiện có là “nhà thương đau mắt” bắt đầu hoạt động từ 15/1/1919.

Nay Trần Nhân Tông tự phát chia ra hai đoạn: đoạn phía đông là phố buôn bán, đoạn phía Tây là địa chỉ du lịch.

Thời xưa đây là đất các làng Giáo Phường, Quang Hoa. Gọi là Giáo Phường vì đời Lê là nơi tập trung các ả đào hành nghề ca hát gốc từ Thanh Hóa ra, hàng năm các làng vẫn thuê đi hát hầu thánh tại đình miếu. Làng Quang Hoa là một làng làm nghề chài lưới, đánh cá bán cho dân trên phố. Thời Pháp thuộc xóa bỏ các làng mở phố xá, nhiều ngôi nhà kiểu mới mọc lên thay nhà lá, nhà gỗ và chủ yếu cho các công chức thuê ở.

Bây giờ, suốt đoạn phía Đông, từ phố Huế đến ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm là nơi tập trung các cửa hàng buôn bán quần áo. Cả một đoạn phố sáu bảy trăm mét, dọc hai bên số chẵn và số lẻ là hàng trăm cửa hàng kinh doanh la liệt các chủng loại quần áo. Già trẻ, gái trai, lớn bé đều có thể tìm ra ở đây một bộ quần áo về kích cỡ, màu sắc, kiểu dáng phù hợp với ý thích của mình. Chỉ có đến khúc cuối từ ngã tư Triệu Việt Vương đến ngã tư Bà Triệu, bên dãy số chẵn là khuôn viên Viện Mắt Trung ương nay là một bệnh viện đầu ngành, một trung tâm nghiên cứu và điều trị của cả nước các bệnh về mắt, mặt chính vốn nhìn ra phố Trần Nhân Tông số nhà 38 song vài chục năm nay được xây dựng mở mang nhiều nên cổng chính quay ra phố Bà Triệu số nhà 85. Thời Pháp thuộc cả dãy phố chỉ có bệnh viện này là hoành tráng nhất nên dân ta gọi nôm na là “phố nhà thương đau mắt”.

Sang đến đoạn phía Tây thì bên dãy lẻ là trường trung học Tây Sơn, thành lập thời Pháp tạm chiếm (1948-1954) dành riêng cho học sinh gái nên có tên là trường Nữ học Tây Sơn. Qua bên kia đường là hồ Thiền Quang, có tên vậy là vì đây là hồ của làng Thiền Quang xưa. Thiền là một nhánh của Phật Giáo cho nên cũng được dùng với nghĩa là Phật. Thiền Quang là “ánh sáng của Phật”. Thiền còn có âm là Thuyền. Có người nói làng này xưa có nghề đan thuyền nan. Hồ này ngay hồi đầu thế kỷ XX cũng rộng gấp đôi ngày ngay, lan sang Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, đoạn cuối phố Quang Trung còn thông cả với hồ Bảy Mẫu.

Đối diện với hồ Thiền Quang tức là bên dãy số lẻ nay là công viên Thống Nhất, phần phía Bắc là đất đai của hai làng Quang Hoa và Pháp Hoa. Hai làng này cũng như làng Thiền Quang đều có chùa riêng. Tới những năm 1925-1926, thực dân quy hoạch lại đô thị, một mặt thu hẹp hồ Thiền Quang, một mặt giải tỏa cả 3 làng ven hồ để mở các phố Quang Trung, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Trần Nhân Tông. Duy có 3 ngôi chùa của 3 làng thì quy về một cụm bên phía Tây hồ, nay vẫn còn cụm 3 ngôi chùa đó, cổng chính nhìn ra phố Trần Bình Trọng.

Công viên Thống Nhất vốn là mở trên đất các làng Kim Liên (phía Tây), Pháp Hoa, Quang Hoa và Thể Giao (phía Bắc và Đông), Vân Hồ (phía Nam). Quanh hồ Bảy Mẫu vốn là nơi làng Kim Liên xưa phơi vải nhuộm nâu một thời nổi tiếng với thương hiệu “vải nâu Đồng Lầm”. Công viên Thống Nhất bao lấy hồ Bảy Mẫu do nhân dân Hà Nội lao động suốt từ cuối năm 1958 đến giữa năm 1961 tạo ra. Năm 1980 nhân kỷ niệm 110 năm ngày sinh Lê nin, công viên được mang tên vị lãnh tụ này. Tới năm 2003, tên Thống Nhất được đặt trở lại còn tên Lê-nin được đặt cho công viên Chi Lăng vốn đã có pho tượng của Người.

Kết thúc phố Trần Nhân Tông ngày trước là bến xe ô tô chạy về phía nam gọi là bến xe Kim Liên. Nay bến xe chuyển xuống Giáp Bát và nơi đây mọc lên một khách sạn theo phong cách Nhật: khách sạn Nikko.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s