Thành Cửa Bắc – Một thời oanh liệt




Thành Cửa Bắc là một trong số ít di tích còn sót của thành cổ Hà Nội. Dấu vết lỗ súng thần công bắn trên bức tường thành đã minh chứng cho một giai đoạn khó khăn của người dân Hà Nội phải chống trả sự chiếm thành của thực dân Pháp vào thời kỳ cuối thế kỷ 19.

Thành Hà Nội là một thành lũy kiên cố, được xây từ thời vua Gia Long. Thành có hình chữ nhật, mỗi chiều dài chừng nửa dặm, tường thành xây bằng đất, được gia cố thêm bằng gạch, thành có 5 cửa, trấn bởi hai tháp canh. Bao quanh thành là một hào nước rộng, mỗi cửa được nối với bên ngoài bằng một cây cầu, nhưng các cầu này không phải là cầu treo, nên con hào này không có tác dụng ngăn cản. Trong thành đóng một số lượng khá lớn binh lính, nhưng họ được trang bị rất tệ hại, đa phần là gươm và giáo, một số ít được trang bị súng nhưng không được huấn luyện để sử dụng. Trên mặt thành có đặt súng thần công nhưng chúng không được sử dụng mà cứ để mưa nắng phá hủy.

Sau khi thực dân Pháp chiếm được thành Hà Nội, lấy cớ là thành phố người ở càng đông cần phải mở rộng thêm nên chúng đã tiến hành việc phá thành nhằm che dấu âm mưu tìm kiếm vàng bạc, đồ quý ở cung vua Lê, chúa Trịnh mà theo chúng được chôn giấu vào trong thân tòa thành cũ. Chúng vận động ban Hội đồng thành phố đem vấn đề phá thành ra bàn và ngày 23/ 7/1893, hội đồng quyết định phá thành và cho gọi thầu.

Bọn thực dân Pháp và Việt gian trong hội đồng thành phố còn có ý sợ dân chỉ trích nên không dám đứng ra thầu phá thành. Cuối cùng, chúng lập ra một công ty cho Nguyễn Thị Lan tức Tư Hồng – một me tây (vợ một tên quan tư Pháp) đứng ra nhận thầu.

Chúng bắt đầu khởi công phá thành từ tháng 2 năm 1894 mãi đến cuối năm 1897 mới xong. Bọn thực dân Pháp phá hết chỉ còn để lại cửa chính Bắc của thành Hà Nội vì đây còn dấu vết của viên đạn của thuyền Pháp khi chúng chiếm thành lần thứ 2 ở ngoài bắn vào từ bờ sông Hồng năm 1882, chúng lưu lại có ý khoe chiến tích xâm lược của chúng.

Trước cảnh thành Thăng Long bị phá hủy, đã có nhà thơ than rằng:

“Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long

Vượng khí nghìn năm có nữa không

Hai cửa còn trơ hai thánh miếu

Một thành sót lại một hoàng cung

Nhường ngao ngán nỗi công ông Bạch

Cũng gớm ghê cho của chị Hồng

Còn biết đâu là nền đế bá

Than ôi! Đệ nhất cảnh Thăng Long!”

(Ông Bạch – Tức thần Bạch Mã có công giúp vua Lý xây thành Thăng Long).

Ngày nay, thành cửa Bắc trở thành điểm thăm quan thú vị đối với du khách. Ngay trên cổng thành có khắc chữ “Chính bắc môn”, Bắc Môn hiện nay được xây dựng từ thời Nguyễn, trên nền Cửa Bắc thời Lê và hoàn thành năm 1805. Bắc Môn được xây dựng theo kiến trúc vọng lâu phía trên là lầu phía dưới là thành. Thành cửa Bắc không chỉ là một di tích còn sót lại của khu thành cổ Hà Nội mà nơi đây còn là minh chứng cho những cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân Hà Nội chống lại thực dân Pháp trong buổi đầu chiếm thành Hà Nội. Ngay trong lầu trên thành trở thành nơi thờ của hai vị tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu – hai vị quan có công cùng nhân dân thành Hà Nội chống trả lại sự tấn công chiếm thành của thực dân Pháp.

Đêm ngày 19, rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, quân Pháp bất ngờ đánh chiếm vòng phòng thủ bên ngoài của hai cửa phía nam, và vượt qua cầu trước khi quân trú phòng kịp bắn xuống. Đồng thời, pháo từ các pháo thuyền cũng bắn lên, khiến cho binh lính phòng thủ, do không quen với đạn pháo, bỏ chạy tán loạn khỏi thành theo cửa tây. Cùng lúc đó, hỏa lực quân Pháp cũng bắn vỡ cửa nam, và chỉ trong một giờ, quân Pháp đã treo cờ Pháp lên vọng lâu thành Hà Nội. Hơn hai nghìn quân triều đình bị bắt làm tù binh.

Con trai Nguyễn Tri Phương là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa". Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20/12/1873 (01/11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và con trai là Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức tự soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà.

Chín năm sau, Pháp tấn công thành Hà Nội lần 2, Hoàng Diệu được vua Nguyễn giao chức tổng đốc Hà Nội và ông đã dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp. Lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được thành nữa, ông đã ra lệnh cho tướng sĩ giải tán để tránh thương vong, một mình vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, đó là ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 Âm lịch). “Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng…" . Ông đã viết bằng máu những dòng này trong tờ di biểu.

Người Hà Nội vô cùng đau lòng. Ngay hôm sau, nhiều người họp lại, sắm sửa mền nệm tử tế, rước quan tài của Hoàng Diệu từ trong thành ra, tổ chức khâm liệm và mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay là địa điểm khách sạn Royal Star ở đường Trần Quý Cáp cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, sau ga Hà Nội).

Khu di tích Cửa Bắc giờ đây trở thành một di tích lịch sử của Hà Nội, đến nơi đây du khách có thể cảm nhận một cách chân thực tội ác phá thành Hà Nội của thực dân Pháp. Hai pho tượng của tổng đốc Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu được thờ trên lầu của thành Cửa Bắc đã là một minh chứng rõ ràng nhất cho tinh thần quyết chiến, bảo vệ nền độc lập dân tộc của cha ông ta.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s