Danh tướng Trần Quốc Tảng mất tại đâu?!




Cách đây khoảng hơn 10 năm, bộ sách Ngữ văn địa phương Quảng Ninh đã được Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh tổ chức biên soạn. Đây là một dự án cấp tỉnh đã được nghiệm thu.

Tháng 12-2009, bộ sách được biên soạn lại và Nhà xuất bản Giáo dục in thành tài liệu giảng dạy (bổ sung) trong các trường THCS ở địa phương Quảng Ninh (tập I dành cho lớp 6-7, tập II cho lớp 8-9). Đây có thể coi là một cố gắng rất đáng khích lệ của Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh. Tuy nhiên, trong bộ sách cũng có những nhược điểm; đó là các tư liệu biên soạn cách đây hơn 10 năm, nay đã có phần lạc hậu, các thông tin về tác giả và tác phẩm, sau hơn 10 năm, không được cập nhật và các lỗi in sai thì khá nhiều, trong đó có những chữ sai liên quan đến kiến thức cơ bản… Đặc biệt trong đó có một chi tiết liên quan đến lịch sử mà tôi thấy cần nêu ra đây để trao đổi, ngõ hầu các thầy cô giáo có đọc báo, thì tự điều chỉnh khi hướng dẫn cho học sinh học hay đọc bài tham khảo…

Tại trang 25, tập I, bài Đền Cửa Ông (phần tham khảo – được soạn thêm, ngoài công trình đã nghiệm thu), ở ngay mục Lịch sử là đoạn mở đầu: ''Sau khi Trần Quốc Tảng mất (1313), nhân dân địa phương truyền lại thấy ông hiển thánh tại khu Vườn Nhãn (phường Cửa Ông ngày nay), nên lập biểu tâu lên vua Trần Anh Tông, được chấp thuận và chu cấp cho tiền bạc để lập miếu tế lễ… Tương truyền trước khi thờ Trần Quốc Tảng, đền Cửa Ông là miếu thờ Hoàng Cần, người địa phương, có nhiều công đánh phá giặc cướp, được các triều vua phong Khâm sai Đông đạo tiết chế”.

Chỉ có mấy dòng này, tôi đã thấy có 3 điều không ổn. Một là câu văn lủng củng, sai ngữ pháp. Hai là, ngay đoạn lịch sử mở đầu có 2 ý đã mâu thuẫn với nhau: Vua Anh Tông cho lập miếu để tế lễ Trần Quốc Tảng, sau khi Trần Quốc Tảng mất năm 1313. Vậy thì làm sao trước khi thờ Trần Quốc Tảng, trải qua các triều vua, tức là rất nhiều năm, lại thờ Hoàng Cần? và nữa, Trần Quốc Tảng mất (hiển thánh) tại phường Cửa Ông ngày nay.

Điều này cần phải rất thận trọng. Sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn, biên soạn từ năm 1875 đến 1883, dưới thời Tự Đức (1848-1883), trong chương viết về tỉnh Quảng Yên (tập IV, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1971 trang 45) ghi về đền Cửa Ông ngày nay, còn gọi Đền Cửa Ông là Miếu Hoàng tiết chế, chỉ thờ có một người là Hoàng Cần mà thôi (không ghi thờ Trần Quốc Tảng). Theo sách này, Hoàng Cần, ở thời Trần (cùng thời với Trần Quốc Tảng) là người xã Hải Lãng (nay thuộc huyện Tiên Yên) và công trạng của ông là đánh giặc ''răng trắng mỏ vàng'', không ghi cụ thể là giặc gì, ''lấn cướp bóc dân bãi biển''. Đến đầu thế kỷ XX, Đền mới được xây bằng gạch và cũng khoảng thời gian đó, tiền nhân mới đưa danh tướng Trần Quốc Tảng vào thờ ở đây cùng với Hoàng Cần.

Như vậy, Trần Quốc Tảng được thờ ở đền Cửa Ông mới có khoảng 100 năm nay, (cũng như đền – chùa Long Tiên thờ Tiết chế Quốc công Trần Hưng Đạo là từ sau năm 1941). Ngôi mộ Trần Quốc Tảng ở sau đền là mộ gió, chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Bởi ông cũng như hầu hết các tướng lĩnh có võ công oanh liệt, khi mất, mộ được chôn cất tuyệt đối bí mật, để đề phòng về sau, e có kẻ thù đào bới đập phá.

Trần Quốc Tảng từ thời vua Trần Anh Tông (1293-1314) đã được lập miếu thờ. Trần Quốc Tảng là bố vợ vua Anh Tông, mất năm 1313. Vua Anh Tông nhường ngôi năm 1314, mất năm 1320, táng ở Thái Lăng, Yên Sinh, Đông Triều. Vậy miếu thờ Trần Quốc Tảng nếu do vua Trần Anh Tông chuẩn y, như bài viết trên, phải có trước tháng 3 năm 1314, trước khi vua nhường ngôi và sau 1 năm Trần Quốc Tảng mất. Và nếu như thế, Đại Nam nhất thống chí không thể không ghi.

Theo truyền thuyết mà Lê Mậu Cường kể (không rõ xuất bản đầu tiên năm nào) được Nguyễn Hữu Phách và Nguyễn Văn Đức biên soạn, in trong tập sách Truyện cổ dân gian Nam Sách (Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, ấn hành năm 2000, trang 52-53) thì ngôi miếu đầu tiên ấy có lẽ ở xã Trắc Châu, huyện Thanh Lâm, nay là thôn Trắc Châu, xã An Châu, TP Hải Dương. (Hiện ngôi miếu vẫn còn tại ngã ba Đò Hàn, phía Nam Sách cũ).

Sách Đền miếu Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (Nhà xuất bản Thanh niên, 2007, trang 201), ghi về cái chết của Trần Quốc Tảng như sau: ''Tự nhiên trời mưa to gió lớn, sấm sét nổ ầm ầm. Ông (Trần Quốc Tảng) thấy một phiến đá to bèn ngồi lên trên. Ngay lúc đó, sóng nổi cuồn cuộn, nước dâng rất cao, nhưng phiến đá nổi trên mặt nước, Hưng Nhượng vương đã hoá (mất) ở đó. Một lúc sau, mưa gió yên, dân thấy trên phiến đá có cái mũ (của Ngài) bèn rước về lập miếu thờ, tâu lên triều đình. Vua phong Thượng đẳng phúc thần, ban cho 800 quan tiền cúng tế''. Lê Mậu Cường (sách đã nói trên) kể rằng: Một chiều, ông già chở gỗ trên sông Thái Bình, bè gỗ trôi (đến khu vực Đò Hàn) thì dừng lại. Một đầu bè trĩu hẳn xuống, không sức nào đẩy đi được. Ông già cúi xuống nhìn, thì thấy trong khoảng nước trong vắt, có một phiến đá và một cái mũ. Đo phiến đá thấy dài 6 thước 4 tấc, rộng 2 thước 3 tấc. Đêm ấy, ông già nằm mơ thấy Ngài hiện về bảo rằng: ''Xưa ta luyện quân ở đây, giờ ta lại về đây, để lại chút kỷ vật lưu lại”. Rồi sông bị bồi lấp, nhưng cái giếng, trong đó có phiến đá và cái mũ, vẫn còn bên cạnh miếu (nay là đền Trắc Châu)…

Căn cứ vào đó mà nhiều người nghiêng về giả thuyết cho rằng đây là khu Vườn nhãn, có lẽ Trần Quốc Tảng đã mất ở đây khi ông về thăm lại nơi luyện quân cũ. Theo sách Trần Triều hiển thánh chính kinh tập biên, bản khắc in năm 1900, thì ông đã ''lập đồn ở xã Trắc Châu, huyện Thanh Lâm. Trải qua ba ngày đêm, ông đánh thẳng vào trại giặc ở sông Bạch Đằng, chỉ một khắc là thắng”.

Cũng phải nói thêm rằng địa danh Vườn nhãn trong cuộc đời Trần Quốc Tảng liên quan đến trận thuỷ chiến vĩ đại trên sông Bạch Đằng, năm 1288. Vườn nhãn phải ở thượng nguồn; để ông kéo quân xuống; theo đà nước triều rút mà xô quân giặc vào trận địa cọc đã mai phục. Không có chuyện ông luyện quân ở phường Cửa Ông hiện nay để đánh ngược nước về sông Bạch Đằng, cũng như không có chuyện Trần Hưng Đạo giấu gỗ ở hang Đầu Gỗ trên Vịnh Hạ Long rồi mới mang về sông Bạch Đằng mà cắm xuống đó, điều được giới sử học bác bỏ từ những năm 70 của thế kỷ trước.

Về đền thờ Trần Quốc Tảng, ngoài miếu Trắc Châu, xã Trắc Châu, huyện Thanh Lâm, nếu được coi là ngôi miếu thờ đầu tiên, thì ngôi miếu này có lẽ có từ đầu năm 1314, ở thời Trần, còn nơi thứ 2 ở thời Lê, là Văn chỉ Linh Khê, huyện Chí Linh, nay thuộc xã Thanh Quang, gần cầu Bình (cũng là gần nơi họp hội nghị Bình Than ở thời Trần, khoảng sông thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách hiện nay, nơi giữa bến Bình và bãi Than), được lập sau năm 1758, năm Thái bảo Trần Cảnh mất, đến năm 1786, năm vua Lê Hiển Tông mất, dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), thờ ba ''Thượng đẳng phúc thần'' là Thái uý Đại vương Trần Quốc Tảng, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, và Tham tụng Thái bảo Trần Cảnh. Như vậy, từ năm 1313, cho đến năm 1786, Trần Quốc Tảng được thờ ở 2 nơi, hiện vẫn còn, đều thuộc huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương hiện nay.

Sơ qua lai lịch như thế, để thấy vấn đề không đơn giản. Nhiều điều còn là các giả thuyết. Sách giáo khoa thì không được lẫn lộn truyền thuyết, giả thuyết với lịch sử. Vì thế, việc ghi vào sách giáo khoa ngữ văn Quảng Ninh là Trần Quốc Tảng đã mất ở phường Cửa Ông hiện nay vào năm 1313, là điều không nên. Nếu biết rằng, đền Cửa Ông thờ Hoàng Cần, khoảng 100 năm nay mới thờ Trần Quốc Tảng thì điều đó càng không có cơ sở…

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s