Quốc hiệu Việt Nam thời Trưng Vương



Mặc dù chính sử không cho biết thông tin gì về quốc hiệu thời Trưng Vương, nhưng trong giai thoại dã sử, truyện ký dân gian và thần phả ở một số đền thờ Hai Bà Trưng và các nữ tướng có nhắc đến quốc hiệu nhưng không đồng nhất.

Trong những chặng đường khó khăn, gian khổ nhưng cũng vô cùng hào hùng đó, phụ nữ có những đóng góp rất to lớn, họ luôn sát cánh cùng cha anh, chồng con phất cao ngọn cờ đại nghĩa, nối tiếp nhau tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc. Hai Bà Trưng chính là hình ảnh tiêu biểu nhất của phụ nữ Việt Nam, là những nữ anh hùng dân tộc đầu tiên làm rạng rỡ nòi giống Tiên Rồng.

Về tên quốc hiệu nước ta thời Trưng Vương liệu đã có chưa, nếu có thì đó là tên gì? Đây chính là câu hỏi mà nhiều người muốn biết. Nếu xét theo ghi chép của chính sử thì không có dòng nào nhắc đến việc này cả, chính vì thế mà gần đây có một số ý kiến cho rằng có thể quốc hiệu Âu Lạc thời An Dương Vương vẫn được dùng, có người nói quốc hiệu thời Trưng Vương là Lạc Hồng khi dựa vào câu ca:

“An Cư có đất thành Dền
Hạ Lôi thì có ngôi đền thờ vua
Lạc Hồng xây đắp nền xưa
Hai Bà công đức ngàn thu còn truyền”.

Thần tích đền Hát Môn (làng Hát Môn, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội) cho biết, khi lên ngôi vua, Trưng Vương đã đặt tên nước là Triệu; có lẽ dựa vào đây mà một số tài liệu nghiên cứu lịch sử sau này khi viết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng cũng nhắc đến quốc hiệu Triệu, như tác giả Tiên Đàm trong bài Thân thế và sự nghiệp của Hai Bà Trưng đăng trên tạp chí Tri Tân số 38 (13/3/1942) có đoạn: “Lấy được 65 thành đất Lĩnh Nam, bà Trưng mới xưng vương, đặt tên nước là Triệu”.

Trong sách Địa Dư chí của Nguyễn Trãi có chép: “Bà Trưng gọi nước là Hùng Lạc”

Nhà sử học thời Hậu Lê là Vũ Quỳnh trong tác phẩm Tân đính Lĩnh Nam chích quái thì lại cho biết một quốc hiệu khác: “Hai chị em họ Trưng mình mặc áo giáp, cưỡi voi, dẫn trên 10 vạn lính ập tới. (Tô) Định hoảng quá nhằm phía biển mà chạy. Vừa lúc đó, dân các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng, tính từ phía ngoài Ngũ Lĩnh ước khoảng 65 thành. Các tướng sĩ họp bàn, tôn phu nhân làm vua, gọi nước là Trưng, đóng đô ở Mê Linh, thuộc Chu Diên”.

Trên đây là một số ghi chép trong sách sử ca ngợi về vũ công to lớn của Hai Bà Trưng, tất cả đều cho biết sau khi đánh bại quân đô hộ nhà Hán, bà Trưng Trắc đã dựng nước, xưng vương, lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh. Giai thoại dân gian và dã sử còn cho biết cụ thể rằng cung điện của vua được xây dựng tại quê nội ở làng Cổ Lai, đất Mê Linh (nay là làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Hà Nội).

Như vậy “Trưng Vương đã đặt quốc hiệu chưa?” vẫn còn là câu hỏi chưa có lời giải đáp và nó vẫn là vấn đề mà giới sử học còn tranh luận.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s