Sĩ phu Hà Tông Quyền



Có sách gọi Hà Tông Quyền. Có sách gọi là Hà Tôn Quyền. Đó chỉ là do kiêng tên húy của Thiệu Trị tức Miên Tông (làm vua từ năm 1841 đến 1847). Về gốc tích của Hà Tông Quyền có thể nói đại lược như thế này: Đời Lê sơ, họ Hà này vốn là ở Hà Tĩnh, huyện Can Lộc. Tới đời Lê trung hưng thì di cư ra ở tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Thời kỳ này, có Hà Tông Huân đỗ tiến sĩ. Về sau, lại di cư ra ở làng Cát Động huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Và đến đời Tông Quyền thì họ Hà này đã định cư ở Cát Động tới ba hoặc bốn thế hệ rồi.

Theo Đại Nam liệt truyện thì cha của ông tên là Hà Tông Đồng, đỗ hương cống đời Lê, nhưng không ra làm quan, mà chỉ mở trường dạy học trong làng. Ông Đồng mất sớm, bà vợ là con gái họ Trịnh, tần tảo nuôi con khôn lớn, Hà Tông Quyền được học hành đến nơi đến chốn chính là nhờ có bà mẹ đảm đang này.

Hà Tông Quyền lấy tên tự là Tốn Phủ, hiệu là Phương Trạch và Hải Ông. Ông ra đời năm 1798. Ngay từ khi còn nhỏ, đã nổi tiếng là thần đồng. Câu chuyện lưu truyền ở địa phương còn kể rằng, ông đọc sách rất nhanh, một thoáng nhìn có thể đọc được tới chục hàng chữ (nhất độc thập hàng). Đã thế ông lại rất chăm đọc sách. Quyển Phương Trạch Hà Tốn Phủ truyện (có ở Thư viện khoa học xã hội) còn ghi rằng: “Dạ tĩnh thường văn độc thư thanh” tức là đêm thanh vắng thường nghe tiếng (ông) đọc sách. Và có lần quan huyện doãn ra cho ông một vế câu đối: Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư (ba người cùng đi, tất có thầy ta). Ông đối ngay: Thiên lý nhỉ lai, tương lợi ngô quốc (nghìn dặm mà tới, đem lợi cho nước tôi). Rõ ràng vế đối không những là rất chỉnh mà còn hợp cách, vì vế ra lấy chữ có sẵn trong sách Mạnh Tử, vế đối cũng lấy chữ có sẵn trong sách Luận ngữ. Một điều đáng chú ý là lúc đó ông mới 12 tuổi.

Chăm học, sáng dạ, chịu khó đọc, nên chẳng bao lâu mà thầy đồ ở trường làng “hết chữ”. Hà Tông Quyền khăn gói lên Thăng Long xin theo học tại trường của cụ Lập Trai Phạm Qui Thích. Chính ở trường này, ông kết bạn với các danh sĩ sau này rất nổi tiếng ở đất cố như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lỳ, Vũ Tông Phan…

Năm Gia Long Tân Mùi (1811), mới 14 tuổi, ông dự thi hương tại trường thi Thăng Long và đỗ hương cống. Đỗ như vậy là có thể đi làm quan, nhất là hồi đó nhà Nguyễn chưa tổ chức thi hội nên cứ đỗ hương cống là được bổ dụng ngay. Nhưng Hà Tông Quyền còn nhỏ tuổi quá nên triều đình lưu lại, đợi đến tuổi thanh niên. Về phía Hà Tông Quyền, ông cũng dâng sớ xin ở lại quê để phụng dưỡng mẹ già và đọc thêm sách.

Cho tới năm Minh Mạng thứ ba (1822), nhà Nguyễn bắt đầu mở khoa thi hội, ông lên đường vào kinh đô Huế ứng thi và đỗ hội nguyên. Như vậy ông là ông nghè khai hoa cho triều Nguyễn. Ông được bổ làm tri phủ Tân Bình (nay là tỉnh Gia Định – Nam Bộ) rồi về làm Tham biện dinh Quảng Trị. Khoảng năm 1827 ông về Huế làm Kiểm sự Bộ Công, và ở với núi Ngự sông Hương cho tới khi chết tức là năm 1839, thọ 42 tuổi.

Trong 12 năm làm quan ở Huế Hà Tông Quyền cũng lắm phen lận đận. Là một quan chức chóng được thăng, hay được thưởng, nhưng ông cũng có những lần bị cách, bị phạt, bị đi hiệu lực vì những lỗi rất nhẹ hoặc rất vu vơ. Dưới đây, hãy điểm qua thời gian ông cung chức tại Kinh:

Năm 1829 làm Hữu Thị lang Bộ Lễ. Năm 1831 làm Hữu Thị lang Bộ Hộ nhưng chủ yếu là coi việc Nội các. Cuối năm này, vì một sơ xuất nhỏ trong việc duyệt tài liệu mà bị cách tuột mọi chức tước, bị đi hiệu lực sang In-đô-nê-si-a. Nhưng sáu tháng sau, khoảng giữa năm 1832, Minh Mạng gọi về, cho phục chức cũ. Sang năm 1833, tháng giêng, được thăng hàm từ Hàn lâm thừa chỉ lên Thị độc học sĩ. Năm tháng sau lại thăng hàm Hữu Thị lang Bộ Công. Năm sau, 1834, chỉ vì là bạn thân của Phan Huy Thực nên khi ông này có tội, bị cách chức thì Hà Tông Quyền cũng bị phạt 3 tháng lương. Tới năm 1835, lại được ăn lương nhị phẩm và thăng làm Tham tri Bộ Lễ, vẫn coi việc Nội các. Năm 1837 ông lại bị vua “quở” vì quên một điển tích. Tới năm 1839, trước khi chết, ông được nâng làm Tham tri Bộ Lại và sau khi chết thì được phong hàm Lại Bộ Thượng thư. Rõ ràng là con đường hoạn lộ của ông không phải là hoàn toàn thông suốt, cứ vài bốn năm lại bị một lần quở trách hoặc giáng phạt. Mà những lần này lý do thật là không đâu. Như việc phải đi hiệu lực năm 1831 chẳng hạn.

Về nguyên nhân của việc đi hiệu lực này, sách Đại Nam thực lục chép: “Mùa đông, tháng 11, năm Tân Mão (1831), Hộ Bộ Thị lang sung Nội các là Hà Quyền bị tội, mất chức, trước kia được giao bài thơ “Thu thành phân số” của nhà vua làm, dưới chỗ chú thích có chữ Thanh Xuyên huyện, người thuộc viên ở Nội các viết lầm là Thanh Châu. Vua hỏi Quyền, Quyền hoảng sợ, tâu: Trót theo tờ sớ của trấn. Sau biết là lầm, bèn lén đem chữa lại tờ sớ để cho đúng với lời tâu. Thuộc viên ở Nội các là Trần Lý Đạo đàn hặc Quyền về tội đó. Vua sai đinh thần luận tội. Đáng xử tội đồ, nhưng vua đặc cách ra lệnh cách chức, cho làm lính , phát đi đường biển để gắng sức làm việc chuộc tội”.

Chỉ vì chữa một chữ, trong phần chú thích của một bài thơ mà Hà Tông Quyền bị cách chức, bị đi hiệu lực! Mà đi hiệu lực thì rất là dễ chết! Hình phạt quả là nặng nề.

Hoặc như năm 1834, Tông Quyền bị phạt 3 tháng lương cũng chỉ vì một lẽ rất kỳ cục. Số là năm đó có khoa thi hương. Các quan chấm trường Hà Nội lấy đỗ 37 cử nhân. Nhưng khi bài vở chuyển về kinh duyệt thì 4 người bị truất xuống bậc tú tài vì văn tầm thường và một người bị hỏng tuột do bài phú trùng vần. Hai viên chánh phó chủ khảo bị giáng 3 cấp. Lễ Bộ Thượng thư Phan Huy Thực – là người có trách nhiệm tổ chức các kỳ thi – cũng bị giáng chức với lý do là thiếu sáng suốt trong khi lựa chọn quan trường. Và Hà Tông Quyền thì bị phạt 3 tháng lượng vì là bạn của Huy Thực! Lý do mới kỳ cục làm sao chứ!

Tai sao Minh Mạng đối xử nghiệt ngã với Hà Tông Quyền như vậy? Cũng dễ hiểu thôi, vì Minh Mạng là tên vua rất sợ kẻ có tài, sợ và nghi kỵ nữa. Cho nên tuy trọng dụng mà vẫn luôn luôn xét nét, sẵn sàng khoác cho họ một cái tội để răn đe và kìm hãm. Có thể nêu Nguyễn Công Trứ để thêm một bằng chứng. Ông này suốt đời cúc cung tận tụy phục vụ triều đình, tức là phục vụ Minh Mạng, nào là khai sông lấp biển, lập ấp, lập làng, mở mang bờ cõi cho nhà Nguyễn… Thế mà bao phiên điêu đứng: cách chức, sung làm lính, đi hiệu lực, phạt lương bổng v.v… Cho nên đôi câu đối của Cao Bá Quát mà nhiều người cho là chỉ để đùa hai ông Nguyễn Công Trứ và Hà Tông Quyền thì thật chưa trúng ý của Chu Thần. Đôi câu đối ấy có trong sách “Cao Bá Quát” của Trúc Khê (Hà Nội -1910):

Y cẩm thượng quỳnh, quân tử ố kỳ văn chi trứ
Bao Tề dữ Tấn, thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền

Tạm dịch:
Mặc áo gấm mà lại dùng áo đơn phủ ngoài, đó là người quân tử ghét màu lòe loẹt.
Khen Tề ngợi Tấn, ấy là đấng thánh nhân bất đắc dĩ phải dùng cách quyền biến.

Đôi câu đối trên lấy chữ trong kinh, truyện mà lại có tên ông Trứ và ông Quyền. Ông Trúc Khê giải thích: ý ông Quát định cợt đùa hai ông Trứ – Quyền, tức là ông Quát muốn bảo rằng hai ông đó là bất tài. Không hẳn là đùa như thế, mà là Cao Bá Quát muốn nói tới gan ruột của Minh Mạng: Nguyễn Công Trứ tài ba hiển hách thật nhưng chính vì vậy mà vua ghét đấy; còn Hà Tông Quyền thì nhà vua bất đắc dĩ phải dùng cái tài của ông đó thôi.

Thật thế. Thiếu Hà Tông Quyền bên cạnh, Minh Mạng rất lấn bấn. Cho nên năm 1831, ông đi hiệu lực sang In-đô-nê-si-a mới có sáu tháng mà Minh Mạng đã phải sai sứ đi triệu về cho phục chức cũ coi việc Nội các.

Hà Tông Quyền bình sinh liêm khiết. Khi chết đi, chẳng có ruộng đất gì để lại cho con cháu. Ở làng quê Cát Động này còn một ngôi miếu thờ ông thì chính là do hai người chắt ngoại góp tiền dựng nên. Ông chỉ để lại có vài tập sách hoặc chép tay hoặc sau này có khắc in: Tốn Phủ thi tập, Dương mộng thi tập, Liễu dương văn tập, Thăng Long tam thập vịnh, Vịnh Kiều v.v… Qua các tác phẩm này, ta thấy ông là một nhà thơ đặc sắc, thơ ông hồn hậu, tinh và nhã, đề tài cũng khá phong phú. Có điều ông chưa nhìn thấy rõ những yêu cầu cơ bản của thời đại, cũng chưa có cái dũng khí lên án toàn bộ cái chế độ cực kỳ phản động của nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Chất liệu hiện thực trong thơ ông cũng rất hạn chế. Cũng bị đi hiệu lực, cũng sang Giang – lưu – ba, nhưng cái nhìn của ông còn lâu mới kịp được cái nhìn của Cao Bá Quát. Song so với những sĩ phu đương thời thì Hà Tông Quyền là một nhà nho có nhân phẩm và là một nhà thơ đặc sắc, xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong lịch sử văn học nước nhà.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s