Ngô Thì Vị – Nhà thơ, nhà ngoại giao




Ngô Thì Vị (cũng gọi là Ngô Thì Hương) tự Thành Phủ, hiệu Ước Trai, tước Lễ Khê hầu, là người Tả Thanh Oai, thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Ông là con Ngô Thì Sĩ, và là em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm. Ông sinh năm nào và mất năm nào, hiện các nhà nghiên cứu chưa xác định rõ. Nhưng theo gia phả họ Ngô, thì năm Canh Thìn (1820) ông được cử làm chánh sứ sang triều Thanh và mất trên đường về (có thể cùng năm ấy). Mặt khác, trong một bài văn tế, anh của ông là Dưỡng Hạo công có nói Lễ Khê hầu sống bốn mươi bảy năm và làm quan mười chín năm. Như vậy, nếu khẳng định năm mất của ông là 1820 thì chúng ta có thể tìm ra năm sinh là 1773.

Anh cả và anh rể của Ngô Thì Vị đều là công thần của nhà Tây Sơn, đã từng giúp Quang Trung làm nên cơ nghiệp, thâm chí có lúc Quang Trung phải nói: “Sinh ra ta là cha mẹ, giúp ta làm nên sự nghiệp là Ngô công”. Do đó sau khi nhà Tây Sơn bị bại vong, thì gia đình họ Ngô ở Tả Thanh Oai là đối tượng bị “dòm ngó” của triều đình. Ngô Thì Vị khó sống yên, nếu ông không ra làm quan với triều Nguyễn.

Sự bất đắc dĩ và nỗi lòng day dứt của ông được bộc lộ trong nhiều câu thơ. Phải đâu là vui sướng! Ông tự ví mình với một con chim bạt gió đang mong về đất tổ quê cha.

Trường minh tự tiếu vô tha vị

Viễn cử thường tư cập tảo quy.

Nghĩa là:

Tự cười kêu mãi không gì khác

Đất khách thường mơ sớm lại về.

Ngày nay, nhận xét về ông, thiết tưởng không nên quá câu nệ ở chỗ ông là tôi của nhà Lê hay tôi của nhà Nguyễn. Cái chính là nên xét thái độ của ông đối với nước, với dân và cách xử lý đối với công việc triều đình. Với chức vị Tham tri Bộ Lại, Ngô Thì Vị được trông coi công việc đối ngoại. Ông đã làm nhiệm vụ ấy một cách vẻ vang, luôn luôn xuất phát từ quyền lợi dân tộc, với ý thức bảo vệ uy tín của triều đình. Ông đã chủ động trong việc đối phó với nước lớn và không bao giờ mất bụng láng giềng.

Lúc bấy giờ, ở phía Nam nước ta, đang có sự bất hòa với đất nước Căm-pu-chia, ông đã thay mặt triều đình ra chỉ dụ cho các quan ở biên giới nên dùng chính sách ôn hòa mà giải quyết. Ông nói: “Thừa tiên chí vi hiếu, mục lân quốc vi nghĩa, hoài tiểu bang vi nhân, tam giả chi tư vị thường thiểu hốt niệm” Nghĩa là “Kế thừa ý chí của cha ông là hiếu, hòa mục với láng giềng là nghĩa, chiếu cố nước nhỏ là nhân, ba điều ấy ta luôn luôn tưởng niệm, chưa có lúc nào coi nhẹ”.

Như vậy Ngô Thì Vị đã áp dụng học thuyết nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vào đường lối ngoại giao của mình. Đường lối ấy tốt, bởi vì nó thể hiện được tinh thần dân tộc, ý chí hòa bình và lòng nhân đạo có truyền thống của cha ông ta. Vì có tài ngoại giao lỗi lạc, nên triều đình đã giao cho ông dẫn đầu phái đoàn đi sứ nhà Thanh, và chính trong chuyến đi này, ông đã từ trần, và theo sự nhận định của người nhà, đó là vì nhiệm vụ.

Trên đường đi sứ ông có làm rất nhiều thơ, về sau đóng thành tập sách gọi là Mai dịch du xứ trong đó có nhiều bài được đời sau ca tụng như Đề Hoàng hạc lâu:

Hán thủy thành biên vân thụ thu,

Tiên nhân bất kiến chỉ không lâu.

Hà thời thiên tế lai hoàng hạc,

Để ý giang trung phó bạch âu.

Lý bá vị ưng thân bút lực,

Thôi quân bất hợp tác hương sầu.

Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị,

Đấu đảm đề thi ký thử du.

Tạm dịch:

Sông Hán bên thành mây lá thu,

Người tiên chẳng thấy, chỉ trơ lầu.

Hạc này tít bóng bao giờ lại?

Âu trắng ven ghềnh há phải đâu!

Lý bá nào cam thua bút lực,

Thôi quân không hợp tả hương sầu.

Việt Nam sứ giả Ngô Thì Vị,

Lưu niệm đề thơ có mấy câu.

Không kiêu hãnh, cũng không tự ty, nhà thơ rất biết mình và biết người. Ông không vì câu “Thôi xướng Lý thù, song tuyệt nhất chương truyền thế thượng” đã có sẵn trong lầu Hoàng Hạc, mà ngừng bút không đề thơ. Hơn nữa, ông tích cực đề cao Lý Bạch và hạ thấp Thôi Hiệu, trái với các truyền thuyết nói rằng Thôi Hiệu làm thơ Hoàng Hạc lâu, Lý Bạch đến sau phải thán phục cho rằng: “Trước mắt mình có cảnh đẹp mà mình không nói lên được, bởi vì trên đầu đã có thơ Thôi Hiệu”.

Sự thật là sau khi từ giã Hoàng Hạc lâu, Lý Bạch đến Kim Lăng (tức Nam Kinh ngày nay) có làm bài thơ “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng đài (lên đài Phượng Hoàng ở Kim Lăng), cốt để họa lại bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu. Đời sau nói “Thôi xướng Lý thù” là như vậy.

Hai câu kết của bài thơ Lý Bạch là:

“Tổng vị phù vân năng tế nhật

Trường An bất kiến sử nhân sầu”

Nếu so với hai câu “Nhật mộ hương quan hà xứ thị, Yên ba giang thượng sử nhân sầu” của Thôi Hiệu, chúng ta sẽ thấy hai nhà thơ đều mô tả tâm sự buồn nhớ cố hương, nhưng thơ Lý Bạch có ý nghĩa chính trị sâu sắc hơn. Phương pháp sáng tác của ông là phương pháp sáng tác tượng trưng. Ông đã dùng hai chữ Phù vân (mây trôi) để ám chỉ thế lực bọn gian thần, dùng chữ nhật (mặt trời) để ám chỉ nhà vua. Như vậy sự băn khoăn và buồn nhớ của ông không vì gia đình, vợ con, mà vì đế đô, vì vận mệnh của triều đình và tương lai của đất nước. Thật là vì nước vì dân. Về mặt này, Thôi Hiệu làm sao bì kịp! Cho nên Ngô Thì Vị nói “Thôi quân bất hợp tác hương sầu” là đúng lắm. Điều đó chứng tỏ ông là nhà thơ, nhưng đồng thời cũng là nhà phê bình thơ rất sâu sắc.

Thơ ông có nội dung phong phú, tình cảm dạt dào, bên trong có chứa đựng lòng yêu nước và tinh thần dân tộc tự hào sâu đậm.

Sự thật đó được khẳng định trong bài Liễu Thăng thạch ký (ghi phiến đá hình Liễu Thăng) như sau:

Để sự hà ta biện hữu vô,

Hoàng Lê công đắc tại bình Hồ.

Thạch ngân ẩn ước sương đao lạc,

Đài sắc y hy huyết giáp ô.

Lưu thủy toàn như minh Liễu bại,

Thường kim ngã tự tiếu Minh ngu.

Đình luân nhật vãn khan di tích,

Tưởng kiến đương niên bố trận đồ.

Tạm dịch:

Chuyện ấy bàn chi có với không,

Vua Lê dẹp giặc, đã bao công!

Đá in mờ tỏ làn sương bủa,

Rêu phủ lập lờ vết máu đông.

Nước chảy ầm reo quân Liễu bại,

Tượng vàng cười giễu giặc Minh ngông.

Dừng xe bóng xế xem di tích,

Trận đánh năm xưa, thấy nức lòng.

Phải chăng những bài thơ như vậy đã có tính quyết định đối với vận mệnh của ông? Đó là sự việc mà các nhà nghiên cứu cần đi sâu tìm hiểu.

Điều chúng ta có thể kết luận ở đây là sự thật hiển nhiên: Ngô Thì Vị là nhà ngoại giao lỗi lạc, đồng thời cũng là nhà thơ xuất sắc, một niềm tự hào của dân tộc ta.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s