Trạng nguyên Đào Sư Tích



Đào Sư Tích(1348-1396), người làng Cổ Lễ, huyện Nam Chân, sau đổi là huyện Nam Trực, phủ Thiên Trường (nay là các huyện Giao Thủy, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc, đều thuộc tỉnh Nam Định), đỗ trạng nguyên khoa Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ 2 (1374), đời Trần Duệ Tông. Tháng 5 năm 1381, ông được lấy làm Tả tư lang trung, Nhập nội hành khiển, làm quan cùng triều cùng cha ông là Đào Toàn Bân. Đào Sư Tích làm quan trải ba đời vua Trần Duệ Tông (1373-1377), Trần Phế Đế (1377 – 1388) và Trần Thuận Tông (1388-1398).

Đào Sư Tích sinh năm Mậu Tý (1348) là con trai Tiến sĩ Đào Toàn Bân đỗ tiến sĩ chính bảng làm quan chức tri Thẩm hình viện sự. Từ nhỏ Đào Sư Tích đã tỏ ra thông minh khác người, lực học vượt đồng môn, lại có tài ứng đối và năng khiếu về thơ phú. Từ sự hiếu học cộng với lòng quyết tâm học tập nên các kỳ thi Hương, thi Hội, Đào Sư Tích đều đỗ đầu bảng.

Tháng 2 năm Giáp Dần niên hiệu Long Khánh 2 đời vua Trần Duệ Tông (1374) trong kỳ thi Đình ông đã đỗ Trạng nguyên đứng đầu bảng. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 2, mùa xuân, Thượng hoàng ở cung Trùng Hoa tại Thiên Trường, thi Đình chọn tiến sĩ, cho Đào Sư Tích đỗ Trạng nguyên, Lê Hiến Phù đỗ Bảng nhãn, Trần Đình Thâm đỗ Thám hoa". Tất cả các vị đỗ khoa này gồm 50 người đều được ban yến, áo, xếp cho quan chức theo thứ bậc khác nhau. Riêng ba vị đỗ tam khôi, được ân vinh đi chơi phố ba ngày.

Tháng 5-1381 Đào Sư Tích được bổ nhiệm giữ chức “Nhập nội hành khiển – Hựu ty lang trung”, sau được phong tước “Mậu quốc công”.

Tháng 12 năm Quý Hợi (1383) đời vua Trần Phế Đế (1377-1388), Đào Sư Tích được thượng hoàng Trần Nghệ Tông tin yêu giao cho viết bài tựa tập sách “Bảo hoà dư bút” gồm 8 quyển nhằm răn dạy vua nối ngôi.

Tháng 12 năm Nhâm Thìn (1392), Hồ Quý Ly bắt đầu sự chuyên quyền. Quý Ly viết 14 thiên Minh Đạo dâng lên vua Trần Thuận Tông, tỏ ý muốn sắp xếp lại bài vị Khổng Tử thờ ở Văn Miếu vì theo Hồ Quý Ly, Khổng Tử chưa phải là Tiên thánh nên không được ngồi chính giữa là vị trí của Thiên tử. Các bài Minh Đạo còn tỏ ý nghi ngờ Khổng Tử, phê phán một số nhà hiền triết của Trung Quốc cổ đại. Nhiều cận thần trong triều dâng thư can Thượng Hoàng không nên nghe theo Quý Ly. Quý Ly bèn lập mưu hãm hại. Đào Sư Tích vì liên quan tới việc này mà bị giáng xuống làm Trung thư thị lang đồng tri thẩm hình viện sự. Chán cảnh nghịch thần chuyên quyền ông cáo quan về quê mở nghề làm thuốc và dạy học.

Tương truyền thời gian này ông lên cư trú tại xã Lý Hải (nay thuộc thôn Lý Hải, xã Phú Xuân – huyện Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1394 nhà Minh có nhiều yêu sách, gây khó khăn nhằm xâm chiếm nước ta, bắt cống nạp nhiều lễ vật. Vua Trần biết Đào Sư Tích là người có tài ứng xử, học nhiều hiểu rộng, biết cách bang giao liền xuống chiếu cho mời ông về triều và cử đi sứ sang nhà Minh. Với tài năng của mình, Đào Sư Tích đã thuyết phục được vua Minh xoá bỏ được các lệ cống nạp hàng năm giữa nước Việt với nhà Minh.

Ngày 4-9 năm Bính Tý (1396) Đào Sư Tích qua đời đột ngột trong thời gian đi sứ, thọ 49 tuổi. Thi hài ông được đưa về nước mai táng tại Phủ Thiên Trường. Tưởng nhớ công lao của ông, các quan thái thú, tổng lý, hương hào vùng Cổ Lễ đã lập đền thờ thờ ông cùng với cha là Đào Toàn Bân.

Tương truyền Ông có công chiêu dân lập ấp ở Đông Trang (nay là Hoa Lư, Ninh Bình), được nhân dân mến mộ ghi công và suy tôn là Thành hoàng làng ở nhiều địa phương.

Sau khi mất, ông được dân xã Cổ Lễ lập đền thờ tại nguyên quán, gọi là Đào Sư Tích Từ. Ngày nay, tại chùa Cổ Lễ có tấm bia nhị Đào công từ bi (bia về đền thờ hai cha con ông họ Đào) chép về công việc ấy. Tại làng Lí Hải, ông được cũng thờ ở Miếu quốc tế (Miếu được cả nước tế tự) và được xếp là bậc danh hiền, phong phúc thần.

Văn phẩm của Đào Sư Tích để lại hiện còn có:

Bài văn Đình đối của ông trong kì thi khoa Giáp Dần năm 1374. Đây cũng là bài văn thi Đình duy nhất của các khoa thi Đình đời Trần còn được ghi chép lại.

Bài Cảnh tinh phú (phú sao Cảnh) chép trong Quần hiền phú tập là tập phú của các danh sĩ các đời từ
Trần, Hồ và Lê, do ông Nguyễn Thiên Túng viết bài tựa biên năm Diên Ninh Đinh Sửu (1459).

Có chuyện kể rằng lúc ông đi thi Hội, khi xuất hành, ra đến cổng gặp người con gái, ông quay mặt nhổ nước miếng. Người con gái ấy nói lại:

– Gặp tôi có can gì đến việc đi thi của ông? Gặp con gái là tốt vì chữ "nữ" ghép với chử "tử" là chữ "hảo", ông đi chuyến này ắt đỗ Tiến sĩ.

Đào Sư Tích trả lời:

– Tiến sĩ đâu vừa ý ta.

Nguời con gái lại nói:

– Thế thì ắt đỗ Trạng nguyên.

Ông vừa lòng, trả lời:

– Chính hợp ý ta.

Khoa ấy quả thật ông đỗ Trạng nguyên.
[/I]

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s