Những điều lý thú về các vua triều Hậu Lê



Lê Thái Tổ nói về chuyện “gánh đất đắp núi”

“Cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang”, đó là câu nói rất có ý nghĩa của Lê Lợi (Lê Thái Tổ) khi ông chưa xưng đế mà chỉ mới xưng vương với hiệu là Bình Định Vương. Câu nói này nằm trong bài hiểu dụ quân dân vào tháng 5 năm Đinh Mùi (1427) khi Lê Lợi tuyên bố trước toàn quân và gửi văn bản đi khắp các chiến trường cổ vũ nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục chiến đấu giành nhiều thắng lợi hơn nữa trong sự nghiệp đánh đuổi giặc Minh xâm lược.

Sách Đại việt sử ký toàn thư chép rõ toàn văn lời nói của Bình Định Vương Lê Lợi như sau: “Giặc mạnh chưa diệt trừ hết, dân sinh chưa được ấm no, các ngươi có yên tâm không? Xưa kia họ Hồ lỗi đạo, giặc Minh thừa cơ sang xâm lược, bắt dân ta phải chịu thuế nặng sưu cao, hình phạt hà khắc. Các người đều mắc vào vòng bạo ngược của chúng, nên mới cùng nhau đứng dậy chống kẻ thù. Bấy giờ công việc đã gần thành tựu, các ngươi nên cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núi phải dở dang. Vả lại, chỉ phải dùng sức khó nhọc một năm mà được hưởng vui sướng thái bình muôn thuở. Các ngươi hãy cố gắng lên!”

Lê Nhân Tông – Hoàng đế trẻ nhất trong lịch sử

Lịch sử Việt Nam, có nhiều vị vua lên ngôi khi còn rất nhỏ tuổi và Hậu Lê là triều đại có nhiều vua lên ngôi sớm nhất, với 5 vua lên ngôi khi chưa đầy 10 tuổi. Trong số đó vua lên ngôi sớm nhất là Lê Nhân Tông, hoàng đế thứ 3 của nhà Hậu Lê.

Lê Nhân Tông tên thật là Lê Bang Cơ, con thứ của Lê Thái Tông, mẹ là Tuyên Từ hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh. Vua sinh ngày 9 tháng 6 năm Tân Dậu (1441), được lập làm thái tử ngày 16 tháng 11 năm đó và đến ngày mồng 8 tháng 12 năm Nhâm Tuất (1442) lên ngôi hoàng đế khi mới 6 tháng tuổi. Theo văn bia Mục Lăng thì Lê Nhân Tông là người “thần sắc anh tuấn, dung dáng đứng đắn…, nước lớn sợ uy, nước nhỏ mến đức”. Ở ngôi gần 17 năm, đặt 2 niên hiệu là Thái Hòa và Diên Ninh, đến ngày mồng 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (1459) thì Lê Nhân Tông bị anh ruột là Lê Nghi Dân sai người sát hại để cướp ngôi, vua mất khi 18 tuổi.

Lê Thánh Tông giữ toàn bộ chìa khóa cửa cung điện trong hoàng thành

Hoàng thành là nơi ở của vua, được bảo vệ rất chặt chẽ, những hành vi xâm phạm Hoàng thành đều bị xử lý nghiêm khắc. Trong bộ Quốc triều hình luật (tức bộ luật Hồng Đức) do Lê Thánh Tông sai soạn thảo, ban hành có nhiều điều luật quy định hình thức xử lý hành vi đe dọa tôn nghiêm và an ninh của hoàng thành.

Cũng qua quy định tại Quốc triều hình luật, chúng ta thấy một điểm rất thú vị ít được biết tới, đó là chìa khóa tất cả các cửa trong Hoàng thành nói chung và các cung điện đều do vua giữ, nội dung điều 62 cho biết chi tiết như sau: “Ban đêm, những người vâng lệnh lấy chìa khóa của vua đi khóa các cửa Hoàng thành, cung điện và trong nội cấm. Khóa xong phải dâng chìa khóa lên vua. Nếu trái lệnh hay chậm trễ thì bị biếm và trượng. Ai không chờ lệnh vua mà tự tiện mở cửa thì bị xử lưu đày đi châu xa; tội nặng thì xử tử”.

Lê Huyền Tông cho mở khoa thi lại đầu tiên trong lịch sử

Khoa thi đặc biệt nhất trong lịch sử Việt Nam được mở năm Giáp Thìn (1664) đời vua Lê Huyền Tông (1663-1671) được gọi là khoa thi Khảo lại sinh đồ (sinh đồ là người đậu 3 trường trong thi Hương). Mục đích mở khoa thi này là do lúc đó dư luận cho rằng có nhiều người dốt vẫn đỗ, triều đình cho thi khảo lại, ai trúng vẫn là sinh đồ, ai trượt phải học lại 3 năm, sau đó mới cho thi tiếp.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về sự kiện này như sau: “Mùa hạ, tháng 4, sai Phó tướng thiếu phó Tông quận công Trịnh Hoành và Bồi tụng Lễ bộ tả thị lang Phong Lộc tử Ngô Tuấn coi việc thi lại sinh đồ các xứ ở bãi cát sông Nhị.

Trước đây, phép thi lỏng lẻo, còn cho mang sách. Từ năm Canh Tý đến nay, tuy đã cấm chỉ nhưng vẫn chưa được chặt chẽ, người thi đỗ phần nhiều dốt nát, nhờ người làm bài, dư luận xôn xao. Đến đây, sai quan phúc khảo sinh đồ ba khoa Đinh Dậu, Canh Tý và Quý Mão. Đề thi dùng một bài thơ Đường và một bài ám tả chính văn kiêm đại chú trong Tứ Thư. Người nào đỗ vẫn được là sinh đồ, người nào hỏng phải ở lại 3 năm để học tập, cho miễn tạp dịch. Nếu thi lại lần nữa vẫn không đỗ mới trở về làm dân, chịu tạp dịch. Bấy giờ người hỏng đến quá nửa”.

Lê Hiển Tông đặt chức quan đặc biệt


Là một quốc gia nông nghiệp nên các đời vua chúa ở nước ta đều rất quan tâm đến lĩnh vực này bằng những chính sách khác nhau, coi đó như nền tảng cho sự giàu mạnh của quốc gia và ổn định xã hội. Nghề nông do phần đông người dân thực hiện, triều đình chỉ quản lý hoạt động nông nghiệp bằng các chính sách thông qua các quan chức, cũng giống như việc quản lý trong các lĩnh vực khác, duy chỉ có vua Lê Hiển Tông đặt riêng một chức quan rất đặc biệt, chuyên lo việc đồng ruộng.

Theo sử sách, vào tháng 7 năm Qúy Mão (1723) vua cho “đặt chức nông quan ở tứ trấn. Mỗi trấn đặt một viên đại sứ và một viên phó sứ, chuyên giữ công việc đồng ruộng, thân hành đi khuyên bảo nông dân. Lại đặt khuyến nông lại, để khuyên dân hết sức làm ruộng, tùy theo sự tiện nghi mà giúp đỡ dân. Hàng năm, cứ tháng trọng đông (tức tháng 11 âm lịch – TG), sai người đi xem xét dò hỏi, xem nơi nào ruộng nương bỏ hoang hoặc khai khẩn, thức ăn của dân đầy đủ hay thiếu thốn để định việc cất nhắc hoặc truất bãi các quan chức địa phương” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục).

Lê Chiêu Thống là người ham học


Lê Chiêu Thống là hoàng đế cuối cùng của nhà Hậu Lê và cũng là người để lại nhiều tiếng xấu khi chỉ vì bảo vệ ngai vàng của mình mà đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi dày mả tổ”, dẫn 29 vạn quân Mãn Thanh kéo vào xâm lược nước ta. Sách Hoàng Lê nhất thống chí có chép lời của người dân Thăng Long nói về Lê Chiêu Thống như sau: “Nước Nam từ khi có đế vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi, đê hèn như thế”.

Vua cũng là con người, có điểm tốt điểm xấu, với Lê Chiêu Thống, điểm tốt đáng nhắc đến nhất của ông là tính ham học. Lên ngôi tháng 8 năm Bính Ngọ (1786), biết mình tuổi còn trẻ, hiểu biết chưa nhiều nên vua đã tích cực học hỏi thêm. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Bấy giờ nhà vua rất yêu chuộng văn học, cứ sáu ngày một lần cho giảng sách ở tòa Kinh Diên và một ngày một lần cho làm giảng sách ở viện Nội Hàn. Cung phụng Bùi Dương Lịch lại càng được vua yêu, ưu đãi hơn cả. Nhà vua thường vời Dương Lịch vào trong nội điện, giảng giải nghĩa sách và bàn luận văn chương không hề trễ nải”.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s