Danh sĩ Nguyễn Huy Oánh

Nguyễn Huy Oánh, húy là Xuân, hiệu Lựu Trai, tự Kính Hoa, sinh năm 1713 (Năm Quý Tỵ niên hiệu Vĩnh Thụy thứ 9) tại làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An ( Nay là xã Trường Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh). Mảnh đất Trường Lưu vốn được xem là vùng " địa linh, nhân kiệt" – một trong những cái nôi của "Văn phái Hồng Sơn".

Em trai ông là Nguyễn Huy Quýnh (1734- 1785) đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772) và làm quan đến Đốc thị Thuận Quảng, Hàn lâm viện thị giảng. Con trai ông là Nguyễn Huy Tự (1743-1790) là tác giả truyện thơ Hoa Tiên, một con người đa tài đa nghệ. Cháu nội của ông là Nguyễn Huy Hổ (1783-1841) tác giả Mai Đình Mộng ký.

• Năm Long Đức Thứ nhất (1732), ông đỗ đầu kỳ thi Hương tại Trường thi Nghệ An.

• Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 9 năm 1748, ông đỗ thi Hội và đỗ đầu thi Đình: Tiến sỹ cập đệ đệ tam đình (Đình nguyên Thám Hoa).

• Sau khi đỗ Đình nguyên ông được bổ làm Hàn lâm viện chế.

• Năm Canh Ngọ (1750), làm Hiệp đồng Nghệ An cùng với Phạm Đình Trọng vây phá Bào Giang (căn cứ của Nguyễn Hữu Cầu). Năm đó cha ông là Nguyễn Huy Tựu qua đời ông về quê chịu tang.khi hết tang ông được bổ làm Đông các hiệu thư rồi thượng bảo tự khanh…

• Năm Đinh Sửu (1757), thăng Đông các đại học sỹ, làm giám khảo kỳ thi Hội.

• Năm Kỷ Mão (1759) được triệu về kinh ban thêm chức Tri binh phiên, làm nội giảng kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám.

• Năm Tân Tỵ (1761 ), ông được ban phẩm phục hàm tam phẩm tiếp đón sứ Thanh. Vì có tài ứng đối năm 1765 ông được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh. Đến năm Mậu Tý (1768) ông được thăng Hữu thị lang bộ Công.

• Sau đó Nguyễn Huy Oánh còn tham gia cùng các tướng đánh dẹp nhiều vùng đất nổi loạn .

• Năm 1782, ông được tặng phong Thượng thư bộ Công. Năm 1783 ông viết Từ Tham Tụng Khải (Bài khải từ chối chức Tham Tụng – Tể Tướng )

• Khi triều Lê đã vào giai đoạn suy vong Nguyễn Huy Oánh nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn nổi ông viết cáo xin về quê.

• Sau khi triều Lê-Trịnh sụp đổ ông sầu nhớ và lâm bệnh rồi mất ngày mồng chín tháng năm năm Kỷ Dậu (1789).

Đọc những dòng vắn tắt chúng ta thấy Nguyễn Huy Oánh là một bậc hiền tài trung quân, văn võ song toàn ông từng viết:

"…Việc văn mài giũa, cùng việc võ luyện đủ

Chẳng phải để mà chú tâm mưu đồ phú quí

….

Chỉ đeo đuổi một nỗi niềm ái quốc trung quân,

Đâu dám mưu cầu điền địa cửa nhà…"

Tác phẩm tiêu biểu

1. Bắc dư tập lãm: Cuốn sách nói về các danh thắng Trung Hoa ông viết khi đi sứ.

2. Hoàng hoa sứ trình đồ: Tập bản đồ hành trình đi sứ.

3. Phụng sứ Yên Kinh tổng ca: Tập nhật ký đi đường trong thời kỳ đi sứ.

4. Sơ học chỉ nam: Tập hướng dẫn nhập môn cho học trò.

5. Quốc sử toản yếu: Cuốn sử Nguyễn Huy Oánh san bổ từ Ngoại kỷ đến hết đời nhà Trần.

6. Huấn nữ tử ca: Tập thơ dạy bảo con gái về công, dung, ngôn, hạnh.

7. Dược tính ca quát: Tập sách về y học.

8. Thạc Đình di cảo: Tập thơ ngâm vịnh, tự thuật.

Sự nghiệp trứ tác và những đóng góp

• Nếu xét về một nhà nho Việt Nam thì Nguyễn Huy Oánh là hình tượng điển hình, sau khi về quê chịu tang mẹ và không xuất chính nữa. Ông đã sắp xếp và xây dựng lại thư viện Phúc Giang và biến Trường Lưu thành một trung tâm văn hóa, học vấn nổi tiếng vào bậc nhất thời bấy giờ. Học trò từ cả kinh kỳ cũng kéo nhau về đây theo học, học trò ông đã có 30 người đậu Tiến sĩ và hàng trăm người đậu tú tài, cử nhân. Ông được học trò tôn làm phu tử.

• Năm 1783 (sau khi ông về quê hai năm) triều đình đã sắc phong ông làm "Uyên phổ hoằng dụ đại vương với lời lẽ trân trọng:

Nối nguồn thơm từ Khổng Tử

Rạng dòng tốt bởi núi Ni


Những con chữ được khắc nối liền nhau một cách tinh xảo, những nét khắc hết sức
tròn trĩnh, vuông vắn. Tương truyền, đây chính là những cuốn “giáo trình” có tuổi
đời hơn 200 năm mà danh nhân Nguyễn Huy Oánh cùng các học trò đã kỳ công
biên soạn và khắc in để dạy dỗ cho con em trong và ngoài vùng Trường Lưu tại
“Phúc Giang thư viện” – một thư viện từng được coi là lớn nhất nhì Đông Nam Á vào
thế kỷ XVIII (Theo Đại Nam nhất thống chí)

• Một điều chúng ta cần phải quan tâm nữa là sau này khi ông đã mất rất lâu vào năm 1824 triều đình nhà Nguyễn lại sắc phong cho vị quan của Triều Lê là Nguyễn Huy Oánh làm "Phúc Giang thư viện uyên bác chi thần" (Vị thần uyên bác của thư viện Phúc Giang), và thư viện Phúc Giang trở thành thư viện thờ một vị thần học vấn – điều hiếm có trong lịch sử Việt Nam.

• Bên cạnh đó Nguyễn Huy Oánh còn để lại một di sản khá đồ sộ và đa dạng với gần 40 tập sách có giá trị từ văn học, sử học, y học, địa lý. Một điều hiếm thấy là Ông còn có một tập sách dạy con gái về công dung ngôn hạnh (tập Huấn nữ tử ca).

• Trong dòng chảy của thời này xét dòng bách khoa toàn thư với các tác gia như Lê Quí Đôn, Phan Huy Chú thì Nguyễn Huy Oánh cũng là một điển hình. Cuốn Quốc sử toản yếu do ông viết hiện đang được Viện Hán Nôm dịch nghĩa.

Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp có thể đánh giá rằng Nguyễn Huy Oánh là một kẻ sĩ khá thành đạt trên nhiều phương diện. Bất cứ trên cương vị nào: nhà giáo, nhà văn, vị tướng dẹp giặc hay một nhà ngoại giao ông đều để lại những ảnh hưởng lớn của mình đối với lịch sử.

Khác với Nguyễn Nghiễm bị lao vào vòng xoáy quyền lực, Nguyễn Thiếp thờ ơ với vận mệnh tổ quốc Nguyễn Huy Oánh đã kết hợp hài hòa giữa con người và thời cuộc để xứng đáng trở thành cây đại thụ trong nền văn học Hồng Lam. Chính nhân cách và tài năng của ông phần nào ảnh hưởng đến các sáng tác văn học sau này của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Du.

Nguyễn Huy Oánh nổi tiếng là người làm được nhiều việc đồng thời và việc nào cũng đạt hiệu quả cao. Trước sau, ông vẫn tự nhận là bậc công thần trung quân ái quốc. Ông từng tổng kết cái chí của mình khi làm quan: “Việc văn mài giũa, cùng việc võ luyện đủ; chẳng phải để mà chú tâm mưu đồ phú quý… Chỉ đeo đuổi một niềm ái quốc trung quân; đâu dám mưu cầu điền địa cửa nhà”. Nhưng cách xử thế của ông cho thấy ông rất linh hoạt, tùy thời mà ứng biến với bản lĩnh cao cường.

Ông ưu tiên nhất cho công tác đào tạo, giáo dục; coi trọng chất lượng quan lại vì chính họ sẽ làm nên chất lượng công việc do triều đình giao phó. Năm 1783, giữa lúc ở đỉnh cao quyền lực, ông vẫn sẵn sàng từ quan. Về quê, ông lập ra thư viện tư Phúc Giang và mở trường tư. Cách làm của ông rất quy củ; với trên 200 bản khắc gỗ, tất cả sách vở do ông tổ chức in ấn đều phục vụ cho việc học tập; ngoài ra còn hàng chục nghìn trang chữ Hán Nôm làm tài liệu tham khảo cho học trò và các văn nhân bạn hữu. Thư viện của ông được triều đình cấp sắc công nhận cùng với một số thư viện tư nhân khác đương thời, còn trường học của ông được ghi nhận là Thạc Đình học hiệu (cách gọi khác, theo tên địa phương là Trường Lưu học hiệu); bản thân ông được suy tôn là Trường Lưu tiên sinh. Để khuyến khích học trò, ông đã dành hẳn 20 mẫu ruộng tốt của mình làm giải thưởng cho những trò học giỏi, đỗ cao. Ông cho khắc bia đá “Khoa danh điền bi kí” cắm ở các bờ ruộng đó để nhân dân cùng thấy và cổ vũ cho học trò của ông. Đây là một cách làm kết hợp tài tình giữa quyền và nghĩa vụ học tập của học trò và là một cách thức động viên thiết thực. Kết quả chỉ trong hơn 6 năm, trong số hàng trăm học trò của ông từ Bắc đến Nam về thụ giáo, đã có đến 30 người đỗ Tiến sĩ; hàng trăm người đỗ Cử nhân, Tú tài-một kết quả hiếm có, một kỷ lục chắc chắn còn lâu mới bị phá vỡ. Trong số đó, nổi bật là những cái tên như Phạm Quý Thích (1760-1825), người Hải Dương, đỗ Tiến sĩ năm 1779, làm quan đến chức Thiêm sai tri công phiên (xét lại các vụ kiện tụng; bậc quan Tòng ngũ phẩm trở xuống, hạng 5/9 bậc quan chế), là nhà giáo, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng; Phạm Nguyễn Du (1739-1786), người Nghệ An, đỗ Hoàng giáp (Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập đệ) năm 1779, làm quan đến chức Giám sát ngự sử, Đốc đồng (khám xét việc kiện cáo; bậc quan tứ phẩm hoặc ngũ phẩm, tức hạng 4/9 hoặc 5/9 bậc quan chế trở xuống), là nhà thơ, nhà văn, nhà sưu tập nổi tiếng…

Ghi nhận tài năng, tâm huyết của ông với sự nghiệp giáo dục nước nhà, triều đình đã phong cho ông là Uyên phổ hoằng dụ đại vương và sắc phong có ghi trang trọng: “Nối nguồn thơm từ Khổng Tử; rạng dòng tốt bởi núi Ni; lấy văn trồng người mở kế trăm năm”. Năm 1824, triều Nguyễn (1802-1945) đã truy phong cho ông, ghi nhận “Phúc Giang thư viện uyên bác chi thần”; như vậy, thư viện Phúc Giang là thư viện duy nhất trong cả nước có thờ thần (vị thần chủ về học vấn, cụ thể là Nguyễn Huy Oánh). Đó là sự ghi nhận và đánh giá rất cao, rất hiếm có.

Nguyễn Huy Oánh còn rất quan tâm đến việc phát triển văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc. Ông là người đã tổ chức xây dựng thành công “Trường Lưu bát cảnh”. Đó là một quần thể gồm 8 thắng cảnh ở quê ông, kết hợp giữa công trình nhân tạo với danh thắng thiên nhiên, gồm: Quan thị triêu hà, Phượng Sơn tịch chiếu, Cổ miếu âm dung, Liên trì nguyệt sắc, Thạc tỉnh hương truyền, Nguyễn trang hoa mĩ, Hân thiên tự chung và Nghĩa thương mộc đạc. Dân gian đã chuyển thành bài văn vần để phổ biến rộng rãi:

Ráng bạc chợ Quan lúc rạng đông

Nắng viền núi Phượng lúc hoàng hôn

Chùa Hàn buổi sớm hồi chuông giục

Kho nghĩa chiều hôm tiếng mõ dồn

Rậm rạp bóng cây che miếu cổ

Lung linh bóng nguyệt chiếu hồ sen

Nguyễn trang hoa đẹp nhìn ưa mắt

Giếng Thạc ngọt thơm uống tỉnh hồn.

Cụm công trình này gợi nhớ đến “Tây Hồ bát cảnh” (8 cảnh đẹp ở vùng Hồ Tây, Hà Nội) cũng trong thế kỷ XVIII.

Nguyễn Huy Oánh trước tác nhiều thể loại. Ông để lại 40 tập sách về văn học, lịch sử, địa lý, y học… Ông có các tập thơ là “Phụng sứ yên kinh tổng ca”, cuốn nhật ký bằng thơ trên đường đi sứ; “Tiêu tương bát vịnh”; “Thạc Đình di cảo”… gồm các bài ngâm vịnh và tự thuật; một tập ghi chép kèm bản vẽ “Hoàng hoa sứ trình đồ bản”, có giá trị về địa lý và lịch sử. Ông còn dành nhiều thời gian nghiên cứu và viết được nhiều bộ sách là “Quốc sử toản yếu”, san bổ từ ngoại kỷ đến hết thời nhà Trần (1225-1400); “Bắc dư tập lãm” ghi chép về danh thắng Trung Quốc; “Sơ học chỉ nam” hướng dẫn nhập môn cho học trò; “Tính lý toản yếu” và “Dược tính ca quát” viết về y học; “Huấn nữ tử ca” dạy con gái về công, dung, ngôn, hạnh… Đó đều là các tác phẩm có giá trị truyền đời.

Trong gia đình, Nguyễn Huy Oánh chú trọng dạy em và các con giữ đạo nhà, chuyên tâm học tập. Em trai ông là Nguyễn Huy Quýnh (1734-1785) đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thìn (1772); làm quan đến Hàn lâm viện thị giảng. Con trai ông là Nguyễn Huy Tự (1743-1790), đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương năm 1759; đến năm 1779 được công nhận học vị tương đương với Tiến sĩ, chuyển sang ban võ nhưng vẫn sáng tác văn thơ. Nguyễn Huy Tự là tác giả truyện thơ Nôm “Hoa tiên” đặc sắc. Các con của Nguyễn Huy Tự là Nguyễn Huy Phó, Nguyễn Huy Vinh và Nguyễn Huy Hổ đều tiếp nối truyền thống tốt đẹp của gia đình và đều là những văn nhân có tiếng. Trong đó, nổi bật hơn cả về văn chương và học thuật là người em út Nguyễn Huy Hổ (1783-1841). Nguyễn Huy Hổ tinh thông thiên văn, y học, lý số, giỏi sáng tác văn chương. Ông là tác giả tập thơ Nôm “Mai Đình mộng ký” viết năm 1809; được đánh giá rất cao, tuy có chịu ảnh hưởng tác phẩm “Hoa tiên” của cha là Nguyễn Huy Tự.

Nguyễn Huy Oánh là người toàn tài, một danh nhân văn hóa lớn, xứng đáng được xếp ngang hàng với các nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) và Phan Huy Chú (1782-1840).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s